Archive for the ‘0. Hot Topics’ Category

Wales, the moments of beauty and love!

Tháng Bảy 25, 2007

Wales, please visit and see
Just come one time only then to leave….

Xứ Wales một lần em đến
Xin một lần em đến để rồi đi…

(Giang Hương)

Chẳng hiểu sao, Anh cứ mãi mãi yêu những mảng mầu của sóng, đam mê mãi những mênh mông vô cùng của Biển, và xúc cảm trước dào dạt của những dãi cát dài bình lặng. Cũng có lẽ vì thế mà Xứ Wales cứ nhè nhẹ níu Anh lại, và khe khẽ thả vào tâm hồn những tình cảm của cây cỏ, mây trời, của núi đồi và biển cả.

Xứ Wales nổi tiếng với những bờ biển và vịnh kéo dài từ Nam tới Bắc. Núi dồi trùng trùng điệp điệp, không cao ngút ngàn như ở Á Đông, nhưng rất lãng mạn, và nhẹ nhè thả vào lòng người những nỗi niềm từ ngàn năm bên Biển. Từ những vách núi thẳng đứng ngã bóng dài trên cát, lặng thầm soi dáng mình trên những bạc đầu sóng vỗ, tới những dãy Vịnh nối liền, những khu vui chơi giải trí, những vùng du lịch dã ngoại, hay vùng sinh thái tự nhiên, tất cả làm cho xứ Wales in đậm những sắc mầu văn hóa rất cổ xưa, nhưng văn minh và hiện đại về cuộc sống cũng như tiêu khiển.

Mùa Hạ ở Wales thật đặt biệt, nắng vàng với muôn trùng ngõ phố và núi đồi được phủ những mầu xanh vô tận. Vào độ chớm Xuân – Hạ, cây cối như bừng mắt dậy, muôn hoa đua nở, muôn lộc khoe đời, làm cho lòng người thêm trẻ lại, người ta thấy tự tin hơn, yêu đời và cuộc sống hơn. Cảm xúc nhìn những nụ mầm chào bình minh vào sáng sớm thật ấn tượng, luôn ắp đầy đầy nhựa sống. Vào những thời gian này, nếu lái xe dọc theo những tuyến đường về thăm những lâu đài cổ, sẽ nhìn thấy bất chợt giữa muôn trùng núi đồi, một vài cây cổ thụ đơm hóa trắng ngần hiện ra bên những góc núi, hay những quả đồi được phủ một mầu vàng trinh nguyên của hoa cải, y hệt như những bức tranh họa đồ của trường phái Hiện Thực, tất cả đều tự nhiên và bình yên đến ngỡ ngàng.

Những Nụ Mầm
(Giang Hương)

Những nụ mầm
lách ra từ phiến đá
mở mắt sáng bừng
gọi đại ngàn
gọi gió, mưa và nắng
gọi muôn loài
gọi ta

Những nụ mầm
khoát lên mình những bản tình ca không lời
đánh thức lòng đất mẹ còn trong cơn mê ngái ngủ
đánh thức vạn vật ra ngoài hình hài vốn dĩ
đánh thức con tim và đam mê

Những nụ mầm
gọi đá hóa phù xa
gọi đời, gọi bốn mùa ra lá trổ hoa

Lách ra từ phiến đá
từ những giọt sương mai
từ những biến đổi không cùng không tận
từ những đêm dài và khát vọng
lách ra từ phiến đá
bẻ gẫy khung thời gian ngàn năm thiên định
tưng bừng khai hội bình minh!

Vào những hôm thời tiết đẹp, đặc biệt là cuối tuần, Anh rất thích được thả hồn mình trên cát, được bay bỗng cùng lòng mình giữa mầu xanh của trời và biển. Những lúc như vậy, Anh thường tản bộ dọc theo những bờ Vịnh, tìm những khoảnh khắc đẹp đưa vào ống kính. Biển Swansea (Biển Thiên Nga), là nơi hàng năm có tời hàng triệu người khắp Anh Quốc và Quốc Tế tới du lịch, với những dãy caravan tới hàng ngàn và bờ biển với những vịnh nối dài lúc nào cũng kín người vui chơi và tản bộ. Trước biển, hình như con người trở nên nhỏ bé, nhưng tâm hồn người thì lại trở nên bao la và rộng lớn hơn.

Tôi sợ, tiếng thở dài của ban mai,
Những ngọt ngào không vị đắng
Sợ những lạnh lùng, những đam mê từ vô tận,
Và con tim trước Biển bổng vô hồn….
(Giang Hương)

Tản bộ dọc theo những ghềnh đá, rồi trèo lên đỉnh đồi đón những những làn gió từ ngoài khơi về cùng với đất mẹ, lòng mình như thư thái hơn, và bình yên hơn trước những áp lực của cuộc sống. Rồi bất chợt nao lòng, khi trước mắt mình là những bông Mai gầy chen nhau khoe sắc trắng. Trước biển với gió cát và vị mặn của nước, những bông Mai như nhỏ hơn nhiều so với bình thường, nhưng sức sống nảy mầm một cách mãnh liệt từ những khẳng khiu của cây Mai già thật là bất diệt. Bổng thấy lòng mình vương đọng, như muốn hóa mình vào cây Mai, ẩn mình vào mầu trắng tinh khôi trước cuộc đời gió bụi. Thiên nhiên thật vô cùng vô tận.

Biển Thiên Nga
(Giang Hương)
Trèo lên đỉnh núi mơ màng
Mây giăng thơ nhuộm địa đàng mà ngân
Thả hồn biển, hóa phong trần
Tơ vương vọng lại vài bông Mai gầy

Swansea
(Giang Hương)
Climbing to the top of the mountain to dream
Clouds are spinning the poems to dye the paradise, vibrating with emotion ever since
Releasing the soul of the sea, transforming to the wind and dust
Love is echoing back a few thin cherry flowers

Advertisements

Xmas Afternoon!

Tháng Mười Hai 24, 2006

The Island is bobbing inside the fog. The sheets of fog quietly and slowly drop the real and unreal into the soul. The lonely colours are floating in the sky. Xmas comes from the children’ eyes.

Only me, attending the ceremony of a church. Could not remember even the sentence learnt by heart. Hurriedly hide myself inside the hymn’s melody. Raise the eyes to God, feeling the life is too immense. You are so far away. The time seems stopping from 4 directions of the universe. The philosophy slightly floats inside the imagination. Feeling moved about STAYING or GOING HOME.

“Hark, the herald angles sing” – The only recessional hymn that I could sing. Closing the book, fret intensively about the innermost feeling. Directing towards the little town, opening the soul together with the fog…

Đảo Quốc bồng bềnh trong khói sương. Từng áng sương mờ cứ lặng thầm thả vào hồn người những hư và thực. Trời lãng đãng những mãng mầu cô lẻ. Giáng sinh về trong từng ánh mắt trẻ thơ.

Chiều một mình dự lễ Nhà Thờ. Không nhớ nỗi một câu Kinh đã thuộc. Vội vã nép mình vào từng giai điệu Thánh Ca. Ngước mắt nhìn Chúa, thấy đời mênh mông lắm. Người xa xôi đến vô cùng. Bốn cõi Thiên Hà thời gian như ngừng chảy. Triết lý nhè nhẹ trôi trong trí tưởng. Chạnh lòng những Ở và Đi.

“Hark, the herald angles sing” – Bài kết của buổi Lễ mà mình có thể hát. Gấp trang sách lại, sao cứ mãi vấn vương một nỗi niềm. Hướng về phố nhỏ, mở lòng cùng áng sương bay…

“A short love story: Missing Michelia Champaca”

Tháng Mười 9, 2006

The Michelia Champaca ‘alba’ is absolutely the most exclusive perfume tree on the planet. This is the ‘alba’ of JOY Perfume world fame, the world’s most expensive perfume..

Here is a short love story about the Michelia Champaca, entitled “Missing Michelia Champaca”. There are a few Buddhism’s philosophies inside the story. It is lovely to feel a bit about the lightly expressed emotions via the way of using the simile of Michelia Champaca.

Thương Nhớ Hoàng Lan

Truyện Ngắn của Trần Thùy Mai

Tôi sinh ra dưới một mái chùa. Nghe kể rằng sư phụ tôi khi ấy còn trẻ, một hôm đi ngang bỗng động tâm hỏi: “Mô Phật, sao sau chùa lại phơi tã lót?” Nghe chuyện đời cha tôi, thầy bảo: “Hãy nhớ ngày này. Nếu có cơ duyên, mười năm sau ta sẽ trở lại”. Trở về thầy bỏ tăng viện, lên một ngọn núi hẻo lánh trong rú xa, dựng mấy nếp nhà cổ. Từ ấy, thầy ẩn tu, hiếm khi xuống núi.

Lớn lên, tôi giống cha tôi như đúc và rất được mẹ yêu chiều. Cha tôi mắt sáng, mũi cao, tiếng nói trầm ấm, tính tình hiền hoà trung thực. Khi còn là một chú tiểu đầu để chỏm, người đã nổi tiếng thông minh, mười lăm tuổi chép rành kinh chữ Hán. Rồi vì học giỏi, được cử làm giáo sư ở trường Trung học Bồ Đề, một trường phổ thông tư thục của Giáo hội. Lúc người sắp được phong Đại Đức thì gặp cô bé nữ sinh tinh nghịch, có đôi mắt hút hồn, đôi môi đầy đam mê và cái tính thích gì thì làm cho bằng được. Ban đầu, cô bé chỉ định quấy phá chơi để thử bản lĩnh của thầy. Nhưng rồi tình yêu là lửa, chính người muốn đốt lại cháy. Cả chùa ngẩn ngơ khi người thanh niên đạo hạnh vòng tay trước sư cụ trụ trì: “Yến bệnh nặng đã bốn tháng rồi, sợ rằng cô ấy chết. Thầy dạy con tu hành để cứu chúng sinh. Nay con có thể cứu một sinh linh, sao lại khước từ?” Cha tôi rời chùa, cô Yến khỏi bệnh rồi hai người thành vợ thành chồng. Ông bà tôi để lại một ngôi nhà, cha tôi cho dỡ đi, xây vào chỗ đó một ngôi chùa tư.

Đã không bỏ đời theo đạo được, thì ông đem đạo về giữa đời. Sau khi đã có con, ông vẫn ăn chay, mặc áo nâu và tụng kinh sớm chiều. Có lần mẹ tôi đi chợ mua một xâu ếch, những con ếch theo phản xạ cứ chắp hai chân trước vái lia lịa. Một bà đi ngang bảo mẹ tôi: “Mấy con ếch lạy khéo không thưa thầy M.H” Rồi bà cười ha hả: “Đi tu mà chẳng chót đời, làm thân con ếch cho người lột da”. Tính mẹ tôi mau nước mắt, cứ vừa đi vừa khóc thút thít cho đến lúc tới nhà. Tối đó bà kèo nhèo mãi, năn nỉ mãi cha tôi tội gì không để tóc, ngả mặn, làm người trần cho sướng cái thân. Tu kiểu này, người ta nói không chịu nổi. Cha tôi chỉ cười, dường như chẳng để tâm. Cả đời người không tranh giành với ai mà như có phép thần thông, chạm vao đâu thì phất lên đến đó. Cơ sở làm hương trầm của người càng phát triển, mẹ tôi càng béo đẹp ra thì lời đàm tiếu của thiên hạ càng rần rần. Cuối cùng, chẳng hiểu vì sao, mẹ bỗng đột ngột bỏ đi mất tăm…

Cô ruột tôi giận lắm, bảo: “Mẹ mi là con yêu tinh, khi trước đã phá đời tu của cha mi, chừ lại phá luôn đời tục của ổng.” Ai cũng khuyên đăng báo tìm, nhưng cha tôi chỉ nói “Đừng”. Ông không trách móc gì, nhưng có lẽ ông buồn, tiếng tụng kinh đêm khuya nghe chừng khắc khoải. Chao ôi, với những con thuyền khắc khoải ấy, kiếp nào cha mới đến Tây Phương?

Cơ sở làm hương từ đó phó mặc cho cô tôi. Cô tôi cho chặt cây, nhổ cỏ, sửa sang lại khu vườn sáng sủa. “Thiệt là hư sự, ai đời lập chùa mà lại trồng hoàng lan trong sân. Mùi hoàng lan là mùi ma, hèn chi ma chướng nó phá cho như thế ni.”

Tôi dân dấn nước mắt nhìn người ta chặt cây hoàng lan, cành lá vứt bừa bãi trên mặt đất. Ngày xưa, gội đầu xong mẹ tôi thường hái hoa giấu vào búi tóc cho thơm. Bây giờ người đã đi, hoa cũng không còn…

Năm tôi mười tuổi, có vị Đại Đức trên núi về thuyết pháp ở chùa Diệu Đế. Tôi đi theo cô tôi đến nghe. Khi trở về tôi xin xuất gia. Cha tôi bảo: “Kinh sách ở đây, chuông mõ ở đây, con còn đi đâu?” Tôi chỉ lắc đầu…

Nơi thầy tôi ẩn tu là Bích Vân am – am Mây Biếc. Mười năm khai sơn, thầy đã cùng đồ đệ trồng hơn hai chục mẫu bạch đàn và ba ngàn giò phong lan đủ loại. Các sư huynh dạy tôi chăm hoa, tưới cây mỗi sáng. Buổi chiều đi học ở trường Nam Giao. Năm mười lăm tuổi tôi bắt đầu chướng tính. Sư huynh hạch tôi: “Bạch thầy, Đăng Ninh trốn học, la cà ở quán cà phê Tím. Người quanh đó ai cũng chê cười, họ nói cô ruột Ninh làm hương giàu có, cúng dường nhiều tiền nên thầy thả cho Ninh tha hồ tự tung tự tác”. Tôi ức, lầm lì không nói, thầy cũng không quở. Tính thầy rất nghiêm, không mấy khi la rầy mà đồ đệ ai nấy tuân lời răm rắp. Chỉ riêng với tôi, không hiểu sao thầy đặc biệt khoan thứ. Sợ thầy phạt, đợi lúc sắp tụng kinh, tôi biện bạch: “Bạch thầy, ngày xưa cha con thường bảo: tu trên núi, tu giữa chợ mới là khó. Không ở giữa đời, làm sao hiểu đời đục mà tránh?” Thầy hỏi: “Ai bảo con là đời đục? Đời không đục, không trong.” Tôi hụt hẫng, không hiểu ý thầy định nói gì.

Tu trên non bây giờ thật ra cũng không phải dễ. Thầy tôi tránh đời vào núi sâu nhưng rồi vườn lan Mây Biếc nổi tiếng quá nên người trần lại kéo lên thưởng ngoạn. Thứ bảy, chủ nhật, học trò đạp xe lác đác trắng trên con đường mòn tới thảo am. Mấy cô nữ sinh nhỏ tuổi mê hoa ngẩn ngơ ngắm bông súng tím trong hồ, chạy vào tới tận hiên, chỗ thầy ngồi viết sách. Thầy không quở, cũng không ngẩng lên nhìn. Một cô bé chạy đến gần tôi, nhìn những làn sương li ti mà tôi đang xịt lên những chồi đang đơm nụ. Cô hỏi tôi tên hoa, tôi giảng: “Đây là giống Tiểu Hồ điệp, nghĩa là bươm bướm nhỏ. Em thấy không, trông xa chấp chới như đàn bướm cải màu vàng”. Cô chìa tay với những ngón búp măng, hứng sương. Tôi cau mày: “Này, đừng nghịch”. Cô bé cứ đùa với những bụi nước, chẳng để ý lời tôi. “Anh cứ tưới đi, em cũng là Lan”. Tôi cáu, xịt cho nước rơi ướt cả tóc, cả áo cô bé. Mấy cô bạn cười rúc rích, khi về có cô còn nói vọng lại: “Con Lan hên quá, gặp chú tiểu vừa đẹp trai vừa quậy”. Tôi tủm tỉm cười. Sư huynh tôi cáu kỉnh: “Mấy con Thị Màu đời nay quá quắt lắm. Bay không biết quyến rũ sư tăng là tội đoạ địa ngục hử?” Tôi cự: “Người ta chỉ đùa thế, có gì mà gọi là quyến rũ”.

Từ đó, vài hôm một lần, Lan lại đến giúp tôi tưới hoa. Tôi dạy cho cô biết về phong lan, đây là cả một thế giới còn đa dạng hơn thế giới người. Phượng Vĩ đỏ rực, Tuyết Điểm thì trắng, Vũ Nữ thì như đang múa trước giò. Lan phụng phịu: “Hoa nào cũng có tên riêng, chỉ em không có”. Tôi nhìn khuôn mặt cô, đôi mắt trong trẻo với cái miệng hồn nhiên như trẻ thơ. “Vậy tôi đặt cho cô một cái tên. Tên cô là Tinh Khôi”.

Thầy biết tình thân giữa tôi và Lan. Sư huynh không vui lòng, thầy chỉ bảo: “Không can gì”. “Bạch thầy, người này có bạn thì người kia có bạn, rồi con gái kéo đến đầy thảo am, còn cái thể thống gì nữa?” Thầy gật đầu. Chiều lại, tôi mài mực hầu thầy, thầy đem cho tôi xem bộ tranh mười bức vẽ mục đồng chăn trâu. “Đây là thập mục ngưu đồ, cũng là quá trình tu học của một con người. Trâu không là trâu, mà chính là cái tâm ta đó”. Tôi động lòng, hỏi: “Bạch thầy, con xem bức vẽ cuối cùng, không còn trâu, chẳng còn người, chỉ còn trăng soi. Vậy cớ gì phải sống trong dây trói. Ngày xưa Tuệ Trung Thượng Sĩ là bậc ngộ đạo mà không kiêng rượu thịt, vì chay mặn chỉ là hình tướng bên ngoài, không can hệ đến sự giác ngộ bên trong”. Thầy cười: “Đúng, con ạ, với bậc đắc đạo là thế. Nhưng khi ta còn là một người phàm, thì cũng như con trâu kia, phải có sợi dây buộc, có người chăn dắt. Đến khi cái tâm vững rồi, sáng rồi mới có thể như trâu đen thành trâu trắng, không ràng không buộc, chẳng những nhởn nhơ trên cỏ xanh mà còn bay lên chín rầng mây”. Tôi vái thầy mà thưa: “Con hiểu rồi, nhưng nhà chùa chẳng thể xua đuổi ai. Từ mai con xin thôi không giữ vườn lan nữa.”

Mấy hôm sau, Lan thấy sư huynh ra tưới vườn, còn tôi thì chẻ củi. “Anh không thích phong lan nữa sao?”. “Không. Muôn hồng nghìn tía, chẳng qua cũng chỉ để nhìn trong chốc lát. Một đời tôi chỉ riêng nhớ hoàng lan”. Tôi giảng cho cô bé biết hoa hoàng lan cánh mảnh mai, vàng như màu chim hoàng yến. Thuở trước, cứ rằm, mồng một, các bà hàng hoa lại đến mua, họ gói hoa trong lá chuối, từng gói nhỏ xinh xinh toả thơm ngây ngất. Lan bảo: “Thích ghê, em chưa thấy bao giờ”. Ừ, loài cây ấy có lẽ giờ đây đã tiệt giống rồi hay sao, nhiều lần theo sư huynh đi chợ mua bông chuối, tôi để ý tìm mà không thấy nữa. Tôi lớn lên, lòng bâng khuâng như thiếu vắng một thứ gì, cứ mơ hồ nhớ nhớ, thương thương…

Cuối năm, anh em tôi kẻ kéo người đẩy, chở phong lan xuống phố đổi gạo. Ông chủ tịch hội hoa cảnh hài lòng lắm khi thấy những giò mũm mĩm với chồi xanh đầy nụ. Ba bao gạo lớn được bưng ra. “Cha ơi, con có làm một ít bánh trái cây để cúng dường”.Tôi nghe tiếng, quay lại, sững người vì thấy Lan. Ông chủ tịch âu yếm bảo: “Cúng dường thì phải cung kính. Con phải tự lên chùa lạy Phật mà dâng”. Tôi hãi hồn, vội nói: “Thôi thôi, khỏi phiền nữ thí chủ. Nhận ngay ở đây”. Lan bật cười, lại cái cười tinh khôi. Rồi Lan nhìn tôi buồn thiu: “Sao lâu nay anh không ra vườn? Em lên chùa, biết anh trong bếp mà mấy chú không cho vào. Riết rồi em buồn không muốn đến nữa”.

Mấy buổi sau, tôi theo các bạn cùng lớp vào quán. Lan ngồi ở đó, sau chiếc bàn con bên cửa sổ. Các bạn tôi ai cũng nhìn về phía Lan, còn cô bé thì chẳng nhìn ai, cứ lặng lẽ một mình. Ngồi ở một bàn xa mà tôi như thấy cả bầu trời hoàng hôn tím, tím ngát ngoài kia đang in trong đôi mắt Lan. Mãi đến khi chúng tôi ra về, Lan mới ngoái nhìn, ánh mắt thơ ngây mà não nùng. Bỗng dưng đỏ mặt, rồi tôi thấy hoảng sợ vì mình đã đỏ mặt…

Một người con gái chiều nào cũng ngồi ở quán Tím, chẳng bao lâu đã thành đề tài để bọn con trai bàn tán.

“Con Lan sữa tươi trông xinh vậy chứ nó mắc bệnh sợ đàn ông. Đếch thằng nào đến gần được, nó tránh như tránh tà”. “Không phải đâu, nó giữ giá để chờ lấy Việt kiều, thằng Hùng ở Cali về ngày nào cũng trực ở nhà nó”. “Giữ giá cái gì, nó ưa thằng Quắn chạy bàn ở cà phê Tím. Tao thấy nó ngồi một bàn với thằng Quắn, khóc rưng rức”. Tôi im lặng, một lát sau mới bảo: “Khó tin”. “Ở đời chuyện gì mà chẳng có thể xảy ra – bạn tôi nói, vẻ ông cụ non – Chiều qua chính mắt tao thấy nó chạy ra sau quầy đưa bức thư cho thằng Quắn”.

Đạp xe về đã đến quá lăng Tự Đức, tự nhiên tôi bứt rứt không chịu được. Tôi quay xe, đạp về nhà Lan. Mưa phùn lướt thướt trên con đường về Bao Vinh xa tắp. Mẹ Lan hỏi: “Nhà chùa có việc gì mà nhắc cháu lên? Thấy Quắn về nhắn, tôi cho cháu đi ngay rồi”. Tôi tái mặt, không kịp chào, đạp xe đi như tên bắn. Tim tôi dội thình thịch vì âm vang những lời nói của sư huynh khi Lan mới lên thảo am lần đầu: “Cô gái này đẹp đẽ thanh tú nhưng đuôi mắt quá dài, môi mỏng, cổ cao, tai nhỏ. Đấy là tướng hồng nhan mệnh yểu.”… Trời chập choạng tối, tới Nam Giao. Nhìn dáo dác hai bên đường, tình cờ thấy Quắn và Lan cùng ngồi trong quán ốc. Quắn gọi rượu, đang ép Lan uống, Lan lắc đầu, Quắn cố nài. Tôi đi vào, đấm mạnh vào mũi Quắn: “Đồ lừa đảo. Từ nay chừa cái thói dỗ gái đi”. Quay sang Lan, tôi nạt: “Đi về!” Không biết Lan có bị một thứ thuốc mê gì không, mặt ngây ngây như bị bỏ bùa. Tôi chở Lan đi. Quắn biết tôi có võ Thiếu lâm nên đành chịu phép, hậm hực chùi máu mũi nhìn theo, cái nhìn của một con thú mất mồi…

Trên đường về, Lan tỉnh lại, gục mặt vào lưng tôi, khóc: “Em nhờ Quắn chuyển đến anh nhiều thư, anh có nhận được không?” Tôi cau mặt: “Em khờ lắm, sao lại đi với thằng Quắn?” “Quắn bảo em uống vài chén cho ấm rồi lên đàn Nam Giao chờ Ninh đến”. “Em đừng quên, tên em là Tinh Khôi. Đừng dại dột để bọn lưu manh làm nhơ bẩn”. Nước mắt Lan chảy thấm qua chiếc áo lam của tôi, thấm vào đến da thịt. Dừng xe, tôi ngồi xuống vệ cỏ ven đường. Lan ngồi bên tôi. “Đêm nào nằm mơ cũng thấy anh dắt em đi thăm vườn phong lan. Mình về trồng lan trong sân nhà em đi, có thích hơn không?” Tôi không trả lời, ngắt những cọng cỏ, vò nát trong đôi tay run run. Trên kia, trăng sáng quá, tròn và rực rỡ như chiếc mâm vàng giữa trời. Bỗng nhiên lòng tôi miên man nhớ những câu chuyện cha tôi vẫn kể ngày xưa… “Em có thích nghe chuyện cổ tích không?” “Thích”. Tôi kể cho Lan nghe chuyện người tử tù đội chiếc mâm vàng đầy nước đi từ cổng hoàng cung vào trước ngai vua mà không sánh ra ngoài một giọt, Lan nghi ngờ: “Sao có người làm được như thế?” Tôi gật đầu: “Ngày ấy, nhà vua cũng đã hỏi như vầy. Vị thiền sư trả lời: “Bệ hạ hứa nếu y làm được thì sẽ tha tội chết. Vì lẽ sống chết của y, nên dù việc khó vô cùng mà y vẫn chăm chăm làm bằng được. Nay nếu bệ hạ cầu giải thoát cũng như người này cầu sống thì việc tu hành dù khó mấy cũng có thể vượt qua”. Lan ngước nhìn tôi, lần đầu tiên tôi nhận ra trong hai cái giếng êm như nhung của mắt cô bé những tia sáng ương ngạnh lạ lùng. “Em hiểu rồi. Anh xem tu hành là chuyện sinh tử của anh. Vậy nếu em lại xem anh là chuyện sinh tử của em thì sao? Anh và em, ai đi trọn đường, ai bỏ cuộc?” Tôi bảo: “Em nói gì thế? Chuyện sống chết mà nghe cứ như là trò chơi sấp ngửa của trẻ con”. Lan cười… Bàn tay nhỏ nắm lấy tay tôi, ngón thon vuôn vuốt như cánh hoa ngậm sữa. Vẻ đẹp này có phải phù du? Vẻ đẹp này là sắc hay không? Chỉ thấy ngợp vì trăng. Trăng sáng quá. “Thôi, về đi em”. Tôi đạp xe, trước mặt tôi chập chờn lấp loá những con đường. Những mê lộ giữa đạo và đời, giữa ma và Phật…

Việc lộn xộn ở quán ốc chẳng mấy ngày đã đồn đến chùa. Cô tôi biết, tốc lên ngay. Tôi bảo: “Cô đừng lo. Chẳng có chuyện gì đâu”. “Không có lửa làm sao có khói. Ăn ốc, đánh lộn, dành gái. Thế còn gì là tu hành? Tau mà gặp con ma nữ đó, tau tước từ dưới tước lên”. Tôi ngẩn người một lúc rồi hiểu ra, không nín được cười. Cô bực tức: “Cháu tưởng chuyện gì cũng cười là xong sao?”

Quả là chuyện không thể cười mà xong. Mấy hôm sau, gia đình Lan mời tôi về.

“Con ma nữ” đã uống hai mươi viên Sedusen, may sao nhà biết được, chở đi cấp cứu. Mẹ Lan chắp tay lạy tôi như lạy Bồ Tát: “Bác biết tính con Lan lắm, từ nhỏ nó đã nói là làm, đã làm là làm tới cùng. Sợ e cứu thoát lần này, nó lại tự sát lần nữa. Con cứu nó cho bác đi con”. Tôi cuống quýt: “Bác bảo con làm sao được?” “Con cứ giả vờ ừ đi, bây giờ nó mới lớn, tính còn ngông cuồng, vài ba năm nữa chững chạc rồi tự nhiên nó hiểu ra”. Ông chủ tịch hội hoa cảnh mắt đỏ au, nhìn tôi chờ đợi một lúc rồi bảo vợ: “Nói như bà cũng khó. Chú Ninh đây tướng mạo khôi ngô, trước sau rồi sẽ có phước được che lọng vàng. Lẽ nào vì con mình mà để người ta mang tai mang tiếng”. Tôi thở dài: “Cháu đi tu không phải là mong lọng vàng che đầu. Chỉ vì nguyện giữ thân trong sạch để tụng cho mẹ cháu một nghìn lần kinh Thuỷ Sám”. Nhớ tới mẹ, tôi bất giác đau đớn trong lòng, đứng dậy đi…

Tôi về chùa, từ ấy không đi đâu. Thầy bảo: “Sao con bỏ học?” Tôi nói: “Suối ở xa, con muốn ra triền núi đào giếng”. Tôi tự đày mình trong những nhát cuốc trên sỏi đá, đêm về tụng kinh, vẫn đôi khi chợt nghe tiếng mình khắc khoải. Có lúc nửa đêm chợt tỉnh, thấy thầy ngồi bên giường, lâm râm niệm chú. Tôi hốt hoảng vùng dậy: “Bạch thầy”. Thầy tôi bảo: “Con giật mình, nói mê luôn, hất tung cả chăn.” Tôi nói: “Con tỉnh rồi. Rước thầy đi nghỉ, con xin ra bệ Phật niệm Cầu An”. Thầy lặng lẽ một lúc rồi bảo tôi: “Tâm không an, có cầu cũng vô ích”. Tôi gật đầu thú nhận. Bao nhiêu đêm, cứ chợp mắt là thấy Lan hiện ra, mảnh dẻ, thanh thoát, đầu đội chiếc mâm vàng sóng sánh nước đi thẳng đến bờ vực. Tôi nghe tiếng thét của nàng vang động cả giấc mơ, nàng nhào xuống rơi thẳng vào không gian mênh mông như chiếc lá lìa cành trước gió. “Thầy ơi, nếu vào Niết bàn mà phải đạp lên một chiếc lá, Phật có làm không? Xin thầy cho con hay, trời đất nặng hơn hay chiếc lá nặng hơn?” Thầy nhìn vào mắt tôi: “Chỉ có con tự trả lời được thôi. Ngày mai con hãy về, cứ nhìn thẳng vào nghiệp duyên mà tự quyết định lòng mình.” Tôi lắc đầu: “Thầy quên sao? Con đã thề khi nào đào xong giếng mới xuố
ng núi”.

Ra xuân, đường lên núi khô ráo. Hai tay tôi ướt bùn đỏ, những giọt nước đầu tiên đã úa ra từ lòng đất sâu. Tôi chạy về chùa, định vào trình thầy nhưng người đang làm lễ. Có người thí chủ dâng hương trong bệ Phật, mùi trầm mới thơm thơm trong không gian.

Đang dội nước rửa tay, tôi nghe có người bước đến: “Chú Ninh!”

Tôi ngẩng lên. Mẹ của Lan. “Bác lên chùa cầu cho em đi bình an…” Bà đưa cho tôi một cái túi nhỏ, rồi vừa quay đi vừa đưa khăn lau mắt.

Những dòng chữ trong thư, mảnh mai và run run như những cánh lan:

“Bốn trăm ngày chờ anh ở quán Tím, cuối cùng em cũng hiểu ra là mình thua cuộc. Đã đi mà chẳng tới, lẽ ra thì phải chết. Nhưng em chết thì anh làm sao yên lòng đi trọn con đường tu. Vì vậy, em đã quyết định lấy chồng xa xứ. Trong cái túi này là cây hoàng lan con, em nguyện tìm cho anh bằng được rồi mới ra đi. Em vẫn nhớ lời anh nói, một đời anh chỉ thích hoàng lan…

Người ta cứ bảo em khôn, lấy ông Việt kiều đi Tây đi Mỹ cho sướng chứ theo chi chú tiểu trọc đầu. Nhưng đi Tây đi Mỹ không phải là chí nguyện của em. Lấy một người mình không thương, đến một nơi xa lạ với em còn khổ hơn là chết. Xin anh hãy tụng cho em một lần kinh cầu siêu thoát, một lần thôi…”

Bất giác, tôi oà khóc. Nước mắt theo nhau lăn trên má tôi như ép cho hết những dòng tục luỵ cuối cùng. “Cứ khóc đi con” – Thầy vỗ về khi thấy tôi luống cuống che mặt – “Thầy chưa nghe nói gỗ đá thành Phật bao giờ”. Tôi nức nở: “Bạch thầy, thầy có cho con trồng cây Hoàng Lan không?”

Thầy bảo: “Cỏ cây vô tội, sao mình không thể bao dung?” Rồi một tay dắt tôi, một tay cầm túi cây đến bên góc vườn, thầy tự mình trồng xuống.

Tôi tưới cây bằng nước giếng chùa. Hoàng lan lớn lên, năm này qua năm khác, nở hoa vàng mong manh. Mong manh như tất cả những gì đẹp trên thế gian.

Tôi cầm lòng thôi thương, thôi nhớ.

THE SADNESS

Tháng Mười 4, 2006

THE SADNESS

The time will teach us how to understand the values of life, feel more about the beauty appeared and disappeared around us, understand more and more about the plight and obstacles of the life and society, be strongger to adapt to the living, studying and working environment, in order to apporoach to the target we wish to obtain.

Thời gian sẽ dạy cho ta hiểu hơn nhiều về giá trị của cuộc đời, cảm hơn nhiều về cái đẹp luôn ẩn luôn hiện bên mình, hiểu hơn nhiều về thân phận và trở ngại của cuộc sống và xã hội, nghị lực hơn nhiều để hòa nhập với môi trường sống, học tập và làm việc, để tiếp cận tới cái đích mà mình mong muốn.

Buồn và vui cũng chỉ là cảm xúc bất chợt mà thôi. Cuộc vui nào, buổi tiệc nào rồi cũng tới lúc phải tàn, phải chia xa; và không có nỗi buồn nào ngự lòng ta mãi mãi. Định mệnh không có hình hài thực sự, bởi vì ta chính là người tạo ra định mệnh, ta biến đổi làm cho định mệnh biến đổi. Chỉ có duy nhất một hình hài không đổi và bất định theo thời gian, vân hành khắp vũ trụ mà Lão Tử tạm gọi đó là Đạo.

Có vui thì ắc có buồn, có buồn thì sẽ có vui. Không có buồn thì sẽ không có vui và hạnh phúc. Anh từng có mấy câu như sau:

Tôi sợ tiếng thở dài của ban mai

Những ngọt ngào không vị đắng

Sợ những lạnh lùng, những đam mê từ vô tận

Và con tim trước biển bỗng vô hồn

(Giang Hương)

Xúc cảm của con người thường rất nhạy cảm, và chính thời gian và trãi nghiệm là những phương thuốc đặc trị, giúp cho ta ngự trị và hành khiển xúc cảm có lợi và mang tới yếu tố tích cực cho mình. Các giải pháp trị liệu Tâm Lý Học và Yoga hay Thiền Định, luôn cố gắng giúp cho con người ta chế ngự được xúc cảm và tâm trạng, để đạt tới sự bình yên và tâm lý tích cực cho con người.

It người thành công từ sách vở, họ thành công nhiều khi học từ những trãi nghiệm của chính mình. Người lạc quan thường thành công hơn, họ nhìn thấy mặc tích cực trong cái tiêu cực, họ hiểu hơn ai hết, thất bại là mẹ của thành công. Họ nhìn sự việc ở một góc cạnh đặc biệt, nhìn thấy cái đẹp, cái hạnh phúc và niềm vui tiềm tàng và ẩn mình trong những buồn phiền và hạn chế của bản thân mình.

Hellen Keller, người Hoa Kỳ, một người mù và khiếm thính, một nhà hoạt động xã hội và giáo viên, người mà sau này trở thành biểu tượng lý tưởng cho hàng triệu người trên thế giới, đã nói rằng :

« Tôi ít khi nghĩ về những hạn chế của mình, và chúng không bao giờ làm tôi buồn phiền. Có lẽ đôi khi có một chút thương hại ; nhưng nó chỉ phản phất mà thôi, như con ruồi giữa những bông hoa »

(I seldom think about my limitations, and they never make me sad. Perhaps there is just a touch of yearning at times; but it is vague, like a breeze among flowers)

Helen Keller cũng nhắn nhủ:

Mặc dù thế giới luôn đầy những khổ đau, nhưng luôn có vô vàn những cách để vượt qua nó

(Although the world is full of suffering, it is also full of the overcoming of it)

Hãy để thời gian trôi đi cũng với những buồn phiền. Không phải tất cả những nỗi buồn đều vô nghĩa. Bởi chính nó là một phần tạo dựng nên hình hài của những hạnh phúc của mình sau này. Và giữa vô tận vô cùng của cuộc sống, đôi khi người ta lại mong muốn có được những phút giây buồn để mà nhớ, buồn để mà thương, buồn để mà vấn vương và hy vọng:

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé

Ðể lòng buồn tôi dạo khắp trong sân

….

Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề

Ðời chỉ đẹp những khi còn dang dở

Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,

Cho nghìn sau… lơ lửng… với nghìn xưa

(Hồ Dzếnh)

Xin đừng tự dối lòng mình, hãy cứ cảm nhận nỗi buồn một cách chân thật nhé, yêu nỗi buồn như yêu những phút giây hạnh phúc. Người ta đâu có dễ hiểu được nỗi buồn, những hãy cố gắng hiểu nó, hiểu rồi ta sẽ biết yêu ta hơn, yêu đời hơn, yêu những nỗi buồn đã giúp ta hiểu mình hơn.

CHIỀU

Hôm nay trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn…
Lá hồng rơi lặng ngỏ thuôn.
Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương

Phất phơ hồn của bông hường,
Trong hơi phiêu bạt còn vương má hồng.
Nghe chừng gió ý qua sông
E bên lau lách thuyền không vắng bờ

Không gian như có dây tơ
Bước đi sẽ đứt động hờ sẽ tiêu
Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều
Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn

(Xuân Diệu) (Tặng Nguyễn Khắc Hiếu)

Cũng xin đừng gượng ép và lượng hóa xúc cảm, bởi xúc cảm làm lên sự khác biệt của con người, làm cho ta cảm nhận được vẻ đẹp muôn mầu của cuộc sống, và sự bao la của vụ trụ.

Hãy để những xúc cảm của mình trôi đi tự nhiên cùng thời gian, cảm nhận nó như chính nó từng cảm hóa mình. Và một lần nữa, chính thời gian sẽ giúp mình hiểu mình hơn, những nỗi buồn sẽ trôi đi nhẹ nhàng như những hạt mưa. Trong bộ phim khoa học giả tưởng Blade Runner (1982) đạo diễn bởi Ridley Scott, có một lời thoại hay và ý nghĩa:

«Tất cả những khoảnh khắc này sẽ mất đi cùng với thời gian, như những giọt lệ trong mưa

(All those moments will be lost in time, like tears in the rain)

Jean de La Fontaine (1621 – 1695), nhà Thơ và nhà Văn Pháp, tác giả của những câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng thế giới, đã nói rằng :

«Những nỗi buồn bay xa bằng đôi cánh của thời gian » (Sadness flies away on the wings of time)

Nhưng dù sao đi nữa, ta luôn phải tin vào chính mình, luôn lạc quan yêu đời, yêu tất cả những nổi buồn và hạnh phúc mà mình đã có và đi qua. Brian Andreas, nghệ sĩ và là người kể chuyện người Hoa Kỳ nói rằng:

Cô thường khóc ít nhất một lần trong ngày, bởi vì cô thấy buồn, nhưng cũng bởi vì thế giới là quá đẹp và cuộc đời thì quá ngắn ngủi

(She usually cried at least once each day not because she was sad, but because the world was so beautiful and life was so short).

Giữa điệp điệp không cùng của con đường mà mình đang đi, có biết bao nhiêu những khó khăn và buồn phiền trước mặt, nhưng cũng sẽ có rất nhiều niềm vui, hạnh phúc đang chờ đang đợi. Chỉ có sự lạc quan yêu đời, yêu mình, yêu vào ngày mai, chỉ có sự tin tưởng ở chính mình và nghị lực của chính mình, mới giúp ta vượt qua những cạm bẫy và gian khó, giúp ta vươn tới cái đích mà mình ngày đêm mong đợi. Và dù thế nào đi nữa, hãy cảm nhận cái đẹp và những phút giây hạnh phúc ở ngay bên mình, cho dù sau này ta vẫn “Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi(Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu), và dù có “Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn” (Xuận Diệu).

Dưới đây là bài thơ Khúc Độc Hành, Anh làm cũng đã lâu rồi, cái ngày mà một người bạn gặp khó khăn, và anh cũng đang lang thang giữa bao la xứ lạ, tìm một con đường riêng và rất riêng cho chính mình:

KHÚC ĐỘC HÀNH

Giang Hương

Trái Đất sẽ tròn hơn
Mặt Trăng rồi cũng sẽ tròn hơn
Em đừng buồn và cũng đừng níu giữ
Con đường rồi sẽ ngắn lại
Và bên ta sẽ lại có những con đường


Này những bông hoa Hướng Dương
Hãy cứ bình yên phiêu lãng nhé
Dẫu ngày mai không còn khoe sắc thắm
Dẫu có vàng khô trong nắng
Em sẽ vẫn mãi huy hoàng trong những đôi mắt trong


Này chú mèo con ngái ngủ
Đừng lim dim đôi mắt dại khờ như thế
Bởi những chú Sẻ con sẽ nhầm cái thiện với cái ác
Chúng cũng sẽ nhầm luôn cái “mỹ” với cái không “mỹ”
Còn trái tim thì rất dễ vô tình


Cái “tôi” là cái đáng ghét và đê hèn
Cún ạ, đừng có mà chếnh choáng
Bởi tiếng sủa vang của cậu, sẽ làm xao động lòng đêm


Đi hết một hành trình ta lại đến với những hành trình
Phải không dòng sông, và những đám mây hồng đỏng đảnh ?
Xin đừng có nổi sóng và cuồng phong phía sau những mùa trắng
Giọt nước mắt nào cũng mặn
Lời ru nào cũng nặng nghĩa quê hương


Em ạ, bình minh sẽ về sau đêm dài không lặng
Không có hoàng hôn nào là không thơ mộng
Không có nỗi buồn nào ngự lòng ta mãi mãi
Không có lời yêu nào mà không luyến lưu vụng dại
Không có trái tim nào không một phút giây nhân ái
Cuối cùng em cũng sẽ nhận ra thôi
Trái đất sẽ tròn hơn
Mặt trăng rồi cũng sẽ tròn hơn!

….

A few beautiful words of the Buddhism

Tháng Chín 28, 2006

A few beautiful words of the Buddhism

First words: The biggest fortune of our life is the health

Second words: The saddest thing in our life is the jealousness

Third words: The biggest enemy in our life is inside ourselves

Fourth words: The biggest happiness in our life is to know how to forgive

Một số lời nói hay của nhà Phật

Lời nói thứ nhất: Của cải lớn nhất của đời người là sức khỏe

Câu nói này mặc dù ai cũng biết, nhưng thực sự lĩnh ngộ được không phải là chuyện dễ. Xin hãy thử xem người xưa, người nay, người trong nước, người nước ngoài, đã mấy người thoát khỏi vòng mê hoặc, dụ dỗ của danh của lợi… Những người ấy thường coi danh lợi, bổng lộc. tình yêu là cái theo đuổi cao nhất của cuộc đời, mà không biết rằng của cải lớn nhất của đời người chính là sức khỏe của mình. Có một câu chuyện cổ kể rằng. có một người ham mê của cải hơn mạng sống, anh ta lạc vào một núi vàng. lúc đầu sung sướng như điên vì lấy được nhiều vàng bạc châu báu, nhưng rồi bi lạc trong núi vàng, bỏ xác tại đó. Có thể nói rằng, sức khỏe là cái quý báu nhất, và cũng là của cải lớn nhất của đời người. Nếu ta không hiểu được điều này thì bất kể danh lợi gì, ham muốn gì đều trở nên vô nghĩa.

Lời nói thứ hai: Cái đáng thương nhất trong cuộc đời là lòng đố kỵ

Đố kỵ là điều thường gặp nhất trong cuộc sống. Lý Tư vì đố kỵ tài năng của đồng học Hòa Phi nên đã gièm pha với vua Tần, khiến Hòa Phi phải chết trong ngục. Bàng Quyên vì đố kỵ học thức của Tôn Tẫn hơn mình, nên đã dùng độc kế hãm hại bạn, khiến Tôn Tẫn trở thành người tàn phế. Nếu xem xét thì những lời nói hay của nhà Phật, chúng ta sẽ thấy Lý Tư và Bàng Quyên đều là những kẻ đáng thương. Bọn họ có thể để ý một dạo, nhưng cuối cùng vẫn không được chết yên bình. Đố kỵ là một bệnh tật, người có bệnh đố kỵ suốt đời không bao giờ được yên ổn. Bọn họ, hôm nay sợ người này vượt qua mình, ngày mai lại lo lắng vì người khác đi trước mình rồi, suốt ngày bọn họ sống trong cảnh tật bệnh đáng thương. Ngược lại, những người công thành danh toại chân chính trong lịch sử đều là những người coi đố kỵ là một điều sỉ nhục. Âu Dương Tu là lãnh tụ trên văn đàn thời Bắc Tống, năm đó sau khi ông biết và lựa chọn Tô Đông Pha, có người nói với ông rằng: “Tô Đông Pha là bậc kỳ tài, nếu ngài chọn Tô Đông Pha thì chỉ sợ 10 năm sau, người trong thiên hạ chỉ biết Tô Đông Pha chứ không biết ngài là ai nữa”. Nhưng Âu Dương Tu chỉ cười và vẫn đề vạt Tô Đông Pha. Người đời sau vì thế càng sùng kính Âu Dương Tu.

Lời nói thứ ba: Kẻ thù lớn nhất trong cuộc đời là chính mình

Câu nói này rất quan trọng. Trong cuộc đời chúng ta thường có một số kẻ thù, như bọn lưu manh, vô lại, kẻ tiểu nhân… Bọn cầm thú mặc quần áo người đó vô cùng tàn ác, nhưng nếu nhìn thấu, thì bọn chúng cũng chỉ là lớp cặn bã. Kẻ thù lớn nhất của con người chính là mình. Một người nếu chiến thắng được mình thì cái gì cũng công phá được, sẽ là người bách chiến bách thắng. Cái đáng sợ là tự mình mắc bệnh mà không biết: Có khi do dự không quyết, có lúc lại đánh giá mình quá cao; có khi tự cao tự đại, có lúc lại sùng bái người… chỉ có chiến thắng bản thân mới có thể mở ra được cục diện vững chắc.

Lời nói thứ tư: Hạnh phúc lớn nhất của đời người là biết buông tha

Trong xử thế, dám nắm lấy là dũng khí, dám buông ra là độ lượng. Phần lớn những người có kinh nghiệm xử thế đều xem thường những hoa tươi, tiếng vỗ tay… trên đường đời, nhưng người đã trải qua nhiều lần mưa gió lại càng tự tin hơn, vững vàng bản lĩnh. Nhưng nếu nhìn nhận một cách bình thường đối với những gập ghềnh, bùn lầy… trong cuộc sống, thì không phải là điều dễ làm. Có thể không hoảng hết, có thể thản nhiên chịu đựng những trở ngại lớn, những tai họa lớn, chính là vì có lòng độ lượng. Nhà Phật lấy lòng độ lượng dung nạp mọi việc trong thiên hạ làm nguồn vui, đã đến rồi thì hãy ở yên mà thích ứng với hoàn cảnh là một loại siêu thoát. Những loại siêu thoát đó đòi hỏi rèn luyện nhiều mới thành. Biết nắm lấy thực đáng quý, nhưng biết buông ra mới là đạo lý chân chính xử thế trong đời.

(Nguồn: Tạp chí Trí tuệ)

Dưới đây là một sưu tầm khác, có cách viết khác và thêm một chút lời hay của cổ nhân, dựa vào triết lý của Tam Giáo:

Những điều răn của cổ nhân

Xã hội phát triển đến mức nào đi nữa thì những giá trị truyền thống phương Đông, tức là cội nguồn văn hóa của mỗi dân tộc Châu Á vẫn cần phải được bảo tồn và trân trọng. Tuy là vốn cổ, nhưng nếu xét về nhân sinh quan đối với con người hiện đại thì dường như không cổ chút nào hay nói đúng hơn là câu chữ cũ, còn ý nghĩa thực tế vẫn hoàn toàn mới mẻ.

Đây chính là điều đáng bàn luận và suy ngẫm, vì như sách “Minh tâm bảo giám” nhận xét: “Người xưa tuy hình dáng như thú, nhưng lòng như có đại thánh ở trong. Người nay tuy hình dáng người nhưng lòng lại thú, biết đâu mà lường. Có lòng không có tướng, tướng sẽ tự lòng mà sinh ra. Có tướng mà không có lòng, tướng sẽ theo lòng mà mất đi”. Phải chăng, vì lẽ ấy mà vô số điều khuyên răn của các bậc tiền bối vô cùng hữu ích cho cách đối nhân xử thế của những người chịu ảnh hưởng giáo dục của Nho giáo, Phật giáo. Tựu trung lại, đó chính là những tâm bệnh như sau:

1

Không có kẻ thù nào to lớn và nguy hiểm bằng chính bản thân ta. Tà ý xấu xa vốn là kẻ thù tiềm ẩn lớn nhất của đời người mà tự ta khó vượt qua nổi. Thật là nghịch lý khi bao khó khăn, thử thách, gian nan do khách quan mà nhờ tinh thần, ý chí quyết tâm ta đều vượt qua. Nhưng, khi trong tâm có bệnh thì lại chịu thua, như dao sắc không gọt được chuôi vậy. Đúng như nhận định trong thế giới có bốn điều tự hủy hoại là: Cây nhiều hoa, quả nặng quá, sẽ gãy cành, rắn độc mang nọc độc nhưng lại bị giết để lấy nọc, kẻ làm việc nước không hiền tài, thì sẽ hại dân hại nước, kẻ làm điều bất thiện sẽ bị quả báo, cho nên sách Kinh dạy rằng: “Sự độc ác do tâm sinh ra, sẽ quay lại tự hại bản thân mình, cũng như sắt tạo ra chất gỉ rồi chất han gỉ ấy sẽ tiêu hủy dần thân hình của sắt”. Suy nghĩ xa hơn và kỹ hơn về giáo lý ấy thì càng rõ, nếu ta không vượt qua được chính bản năng của mình thì lương tâm và trí tuệ, lương tâm và trí tuệ của ta cũng sẽ bị xói mòn mục ruỗng, chẳng mấy chốc mà thành phế nhân. Ngạn ngữ vẫn cho rằng: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, nội dung bên trong hoặc phần tinh thần không nhìn thấy được ấy mới quyết định bản chất của một chính nhân thực thụ, bởi đơn giản là: “Con người biểu lộ tính ưu việt của mình ở bên trong, chỉ có con vật mới lộ ra bên ngoài thôi”.

2

Những thất bại lớn nhất của con người đều do tính tự cao tự đại sinh ra. Sách Cảnh hành lục cho rằng: “Sự tự mãn (tự cho mình đầy đủ) làm cho mình hư. Sự kiêu căng (tự cho mình giỏi) làm mình trở thành ngu. Chuyện kể rằng: Có đứa con nhà giàu không coi ai ra gì, thích đứng trên cây tè xuống đầu người đi đường, ai cũng ngại nhà ấy mạnh tiền của chẳng dám nói gì. Một hôm có đoàn quan binh đi qua dưới gốc cây, tay kia tè ngay vào viên quan văn đi đầu, viên quan này gật gù khen giỏi, rồi đi tiếp. Lúc sau viên quan võ đi qua, tay kia vẫn tiếp tục tái diễn trò ấy, nhưng không ngờ viên quan võ nóng tính bèn rút kiếm ra chém phăng đầu đứa xấu chơi. Người đời thường cười tên ngu dốt và thán phục mưu sâu của viên quan văn, nhưng cái chết thì vẫn dành cho kẻ cao ngạo. Chẳng thế những nước nông nghiệp vùng Đông Nam Á thường dùng biểu tượng cây lúa để đề cao tính khiêm nhường: khi cây mọc càng cao, càng trổ bông trĩu hạt chín vàng thì cây càng cúi thấp để tránh gió đồng ập đến. Lã Khôn thì rút ra bài học: “Khí kiêng nhất là hung hăng, Tâm kiêng nhất là hẹp hòi, Tài kiêng nhất là tự cao”, nếu không hiểu được những điều này thì sống trên đời chẳng mấy chốc sẽ thất bại.

3

Ngu dốt lớn nhất của con người là sự dối trá. Kinh Phật cũng liệt kê điều này vào trong 7 tội lỗi lớn nhất mà người muốn đắc đạo không được mắc phải. Tục ngữ cũng nhận định rằng: Đường đi hay tối, nói dối hay cùng. Trên phương diện y học thì nói dối hại tim, suy yếu phổi vì luôn ở tâm trạng đối phó bất ổn. Xét về khía cạnh tâm sinh lý, thì nói dối bao giờ cũng tạo ra những phản ứng trái ngược trong cùng một chủ thể, khiến con người luôn bí bức vì không thể sáng tạo mãi ra những điều không có thật. Đành rằng, cuộc đời là một sân khấu lớn, nhưng không phải tất cả những nhân vật biểu diễn trong vở kịch đều là nghệ sĩ vĩ đại, thế nên mới nói đổi vai diễn thì dễ còn nhập vai chính hoặc phụ đạt yêu cầu là cả một khoảng cách. Sở dĩ phải phân tích điều này vì lắm kẻ vẫn huênh hoang và tự hào về khả năng diễn vở trắng – đen mà không biết đang tự mua dây trói mình. Châm ngôn Trung Quốc nói: Nếu có lương tâm trong sáng cả đời bạn sẽ không phải sợ tiếng gõ cửa lúc nửa đêm. Còn Trình Di lại đúc kết rằng: Lấy lòng chân thật cảm động người ta, thì người ta cũng lấy chân thật mà đãi lại, Lấy cách trí thuật cài đạp người ta, thì người ta cũng lấy trí thuật mà xử lại. Nếu cứ lẩn quẩn mãi như thế, cuộc đời liệu có yên ổn và an nhàn không?

4

Nỗi bi ai lớn nhất của con người chính là lòng đố kị. Tính ganh ghét và đố kị như mốt ngọn lứa nhỏ leo lét trong tâm mỗi người. Với những ai điều chỉnh được bản thân hướng thiện thì sẽ chế ngự được ngọn lửa ấy và hóa nó thành khát vọng tốt đẹp ham muốn vươn lên, với những kẻ bản năng tầm thường thì ngọn lửa này sẽ thỏa sức cháy, thiêu rụi hết những gì gọi là nhân đức – giáo dục – văn hóa biến người ta thành một con thú hoang lồng lộn cắn xé giành giật miếng mồi và kết cục lại bị chính ngọn lửa tham này đốt cháy thành tro bụi. Đúng là: Lòng tham thì hại mình, Sướng miệng thì tổn thân! Bệnh ghen tị luôn khiến nội tâm con người bức xúc, hậm hực khó mà khuyên giải được nếu như không được thỏa mãn một tý chút gọi là. Thế mới biết, sự đời đâu phải chỉ con gà tức nhau tiếng gáy, mà con ngựa ghen nhau tiếng hí, con chó ganh nhau tiếng sủa, con chim đua nhau tiếng hót, còn con người thường ghen tị mà hãm hại lẫn nhau. Có lẽ nên tra lại Minh tâm bảo giám để ghi nhớ thêm một câu: Miếng ăn sướng miệng, sẽ sinh ra bệnh tật, việc làm thỏa chí, sẽ đưa tới tai vạ. tranh hơn chạy tắt hay thành ác, nói lỡ lời đâm ra tiếng đồn đại. Cho nên, để bệnh rồi uống thuốc sao bằng tự ngừa trước bệnh tật?

Nho giáo là một đạo học về cuộc sống có nội dung giản đơn chủ yếu thuận theo lẽ sống tự nhiên của khuôn khổ xã hội nhất định. Người có học Nho bao giờ cũng có chất nền nếp, giữ phép tắc, có lòng nhân đạo bác ái. Tuy nhiên, Nho giáo nhiều khi khó hiểu, rườm rà khiến cho người học khó theo kịp và không thể lấy mức nào để làm chuẩn mực. Chỉ có những tính chất trí tuệ và triết lý của Nho học là mang tính giáo dục lưu truyền phổ thông với tác dụng thực tiễn cao nhất, đặc biệt là về bản chất và phong cách sống của con người – đây là lĩnh vực mà cổ nhân đưa ra nhiều triết lý vô cùng sâu sắc:

5

Sai lầm lớn nhất của con người là tự đánh mất mình. Ta chỉ là một cá thể nhỏ, một hạt cát trong vũ trụ bao la và trên hành tinh có 7 tỷ cá nhân khác nhưng điểm khác biệt duy nhất khiến ta làm chủ được cuộc sống riêng không phải là cái tên khai sinh mà chính là sự khẳng định khác biệt với những người khác trong cá tính nhân cách, năng lực và tư duy phát triển vươn lên đa dạng. Ai cũng muốn tự khẳng định mình và càng muốn những người khác công nhận mình trong một hoặc nhiều lĩnh vực trong cuộc sống theo phương châm hiện đại: giỏi một – biết nhiều. Nhưng cũng nhiều người đã không tự chứng minh được mình mà còn đánh mất luôn cả bản thân vì những tác động khách quan bất ngờ và chủ quan không may mắn! Thường thì khách quan bị cột vào việc mất phẩm chất hoặc danh dự như vì nghèo quá hóa liều. Nhưng Lã Khôn cho rằng: Nghèo không xấu, nghèo mà không có chí mới là xấu, hèn không đáng ghét, hèn mà không có tài mới đáng ghét, già không nên than thở, già mà sống thừa mới đáng than thở, chết không nên bi ai, chết mà vô bổ mới đáng bi ai. Nhưng tội lỗi quả là sinh ra chỗ giàu sang vì sức mạnh của đồng tiền rất đáng kinh ngạc. Cho dù chưa phải là Tiên, Phật hay chân lý, nhưng đồng tiền cũng, làm hắc nhân tâm, xét từ cổ chí kim thì: Người ngồi trên đống cát ai cũng có thể là quân tử hiền nhân, nhưng ngồi trên đống vàng thật khó thay, đã có ai là hiền nhân quân tử đâu?

6

Tội lỗi lớn nhất của con người là lừa dối cả thiên hạ lẫn bản thân mình. Dối trá với cuộc đời thì chẳng hay ho gì, bởi gieo hạt nào thì gặt quả nấy. Sách Minh tâm dạy rằng: Độ lượng to lớn bao nhiêu thì phúc trạch càng to lớn bấy nhiêu, Mưu sâu độc bao nhiêu thì tai vạ cũng sâu độc bấy nhiêu. Nhưng khi đã tự lừa dối cả bản thân mình, thì quá tội lỗi. Nhẹ nhất là tự huyễn hoặc khả năng, bản chất của cá nhân để yên lòng tồn tại. Nặng hơn tự cho mình là thiên tài, luôn cao giọng răn dạy cuộc đời. Nghiêm trọng nhất là tự cho mình cái quyền quyết định, hay phán xử tất cả mọi sự việc, mức độ này thường dẫn đến hành động oai hùng thái quá gây tổn hại đến tinh thần và tính mạng người khác. Thường thì người ta hay tự an ủi bằng những lý do không đúng sự thật về những điều xấu mình đã gây ra, cốt để yên tâm tạm thời còn phần lớn thời gian luôn cảm thấy bất an, nơm nớp. Nên Kinh thư mới nhắc: Làm điều thành thật thì bụng yên ổn và mỗi ngày một hay. Làm điều gian dối thì bụng băn khoăn và mỗi ngày một dở. Không tự lừa dối mình và mọi người cũng có nghĩa là phải chứng minh sự thật bằng mọi giá. Chuyện cổ kể rằng, có người thợ đào được hòn đá bên trong có ngọc đem dâng vua, vua không tin, kết tội nói dối nên chặt chân trái. Vua sau lên ngôi, người này cũng đem ngọc đến dâng và vua cũng bảo gian dối, chặt nết chân phải. Đời vua sau nữa lên ngôi, người thợ đến chân núi khóc suốt 3 ngày đêm đến chảy cả máu mắt. Vua đến hỏi thì người thợ nói, khóc vì ngọc mà nhầm là đá – thật mà cho là dối! Vua bèn sai đập hòn đá ra, thì quả có hòn ngọc bên trong.

7

Cuộc đời nhiều nỗi thương cảm xót xa nhưng có lẽ con người đáng thương nhất là tự ti. Đây là cách suy nghĩ, biểu hiện, hành động không đúng với bản chất và khả năng của mình. Biểu hiện tích cực của tự ti là thu nhỏ lại không va chạm, không bon chen, ngại đưa ý kiến, sợ phản đối trong mọi hoàn cảnh. Biểu hiện tiêu cực thì tệ hơn là luôn khúm núm, xun xoe, bợ đỡ, xu nịnh, tâng bốc ai đó để lấy chỗ dựa bởi mặc cảm: phải có bờ rào thì dây leo mới có chỗ dựa! Chuyện xưa kể. Có một tay nhà giàu nứt đố đổ vách được nhiều người trong làng tâng bốc, nịnh hót nhưng anh nông dân nghèo rớt mồng tơi bên cạnh nhà lại dửng dưng, không cần biết. Tay nhà giàu gặng hỏi, anh nông dân trả lời: ông giàu kệ ông, tôi nghèo kệ tôi cớ gì phải xu nịnh? Tay nhà giàu hào phóng: Nếu tôi cho anh 1/2 tài sản thì anh có nịnh tôi không? Anh nông dân vẫn đáp: Nếu thế hai bên ngang hàng nhau, cần gì nịnh ai? Tay nhà giàu tức khí: Nếu cho anh tất cả tài sản thì anh có nịnh tôi không? Anh nông dân thản nhiên: Lúc ấy ông phải xu nịnh tôi mới đúng! Thực tế bây giờ cũng chứng minh rằng: tiền bạc và địa vị tác động ghê gớm đến suy nghĩ tự ti, nếu ai không đủ cứng rắn để giải thoát khỏi nỗi ám ảnh này thật vô cùng đáng thương. Đường đời vốn không bao giờ bằng phẳng, chuyện vấp ngã hoặc trượt chân rất bình thường. Triết lý cho rằng: mỗi lần ngã là một lần bớt dại. Điển tích thơ, ca ngợi tài ứng khẩu của bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương khi ngã cơ học vần giải thích kiểu triết học: Giơ tay với thử trời cao thấp – Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài? Trong cuộc sống không đơn giản như thế có những cú ngã vô hình tác động và ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần và làm suy sụp ý chí quyết tâm gượng dậy. Có thể nói từ vị trí ngã cho đến lúc đứng dậy được phải trải qua động tác trung gian là quỳ gối – khom lưng đây cũng chính là thời điểm quan trọng nhất nếu không đủ bản lĩnh để vươn lên thì không những chẳng đáng khâm phục mà còn vĩnh viễn tình nguyện gia nhập đội ngũ những kẻ không tiên hóa được chỉ đi bằng đầu gối. Bởi thế, Chu Hy mới dặn rằng: Đời suy, đạo vi, lòng ham muốn loài người đầy rẫy, không phải người cương nghị thì đứng vững sao được?

8

Có một câu châm ngôn sống dạy rằng: Mất xiềng xích thì được tự do, mất tiền sẽ được kinh nghiệm, mất sức thì được sung sướng nhưng đừng bao giờ mất hy vọng, mất hy vọng là mất tất cả! Đây đúng là chân lý thực dụng kiểu phương Tây nhưng có một ý chính trùng với người phương Đông. Sự mất mát lớn nhất của con người là tuyệt vọng.

Không được tuyệt vọng tức là phải luôn luôn có hy vọng để sống và sống vì hy vọng. Khi ta có hy vọng vào mốt con người, sự việc, hoàn cảnh nào đó cũng đồng nghĩa với việc ta đặt trọn mềm tin vào đấy để có động lực sống, do đó sự phấn đấu vươn lên sẽ mạnh mẽ và đạt hiệu quả thiết thực. Tình cảm bị tuyệt vọng sẽ tạo nên trạng thái tâm lý dở khùng, hoang mang, không biết sắp xếp mọi mặt của cuộc sống ra sao. Nếu sự nghiệp bị tuyệt vọng sẽ gây ra sự phẫn uất, chây ì với bản thân, còn nếu tuyệt vọng với cả hai điều này thì dẫn đến kết cục bi thảm: một kẻ trắng tay thường tự kết thúc cuộc sống của mình rất nhanh. Vậy muốn giữ được hy vọng, không sa vào tuyệt vọng thì mỗi con người phải có ý chí, nghị lực như Vương Dương Minh nhận định: Người không có ý chí như thuyền không lái, như ngựa không cương, trối giạt lông bông, không ra thế nào cả.

9

Các cụ xưa cũng nhấn mạnh rằng: Tài sản lớn nhất của con người là sức khỏe. Người bình thường không ai nghĩ đến sức khỏe của mình, chỉ khi nào bị tác động của bệnh tật hoặc tuổi già mới giật mình nghĩ lại, chủ yếu là cảm giác nuối tiếc. Bão Phác Tử nói: Ai cũng muốn sống lâu mà không biết cách dưỡng sinh. Ai cũng biết ăn uống quá độ thì ốm đau mà không biết giữ miệng. Ai cũng biết tình dục quá độ thì khô héo mà không biết phòng thân? Mạnh Tử thì cho rằng: Dường sinh không gì hay bằng ít lòng ham muốn, say mê. Tư Mã Thiên cũng nhận xét: Tinh thần dùng quá thời kiệt, hình thể làm quá thời mệt. Đúng là khi đã ốm đau bệnh tật rồi thì có tặng, biếu ham muốn cũng không còn cảm hứng đón nhận nữa. Tuân Sinh Tiên lại có ý sâu xa: Muốn cho thân không có bệnh, trước hết phải để tâm không có bệnh. Nên ít sắc dục để nuôi tinh, ít ngôn ngữ để nuôi khí, ít tư lự đế nuôi thần. Còn danh y Tuệ Tĩnh luôn nhắn nhủ: Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần, Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình (ý là: giữ tinh, dưỡng khí, bảo tồn thần, giữ cho lòng thanh thản, hạn chế dục vọng, giữ chân khí, luyện tập thân thể).

10

Trong cuộc sống còn nhiều mối liên quan, tác động đến nhau về cả vật chất và tinh thần, những món nợ tiền còn có thể trả được nhưng nợ tình thì khó khăn hơn nhiều, cho nên món nợ lớn nhất cuộc đời con người là tình cảm. Kinh Lễ đặt câu hỏi: Thế nào là tình cảm con người? Mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét muốn. Bảy loại tình cảm đó chẳng cần học ai cũng biết. Thế nhưng, bảy sắc tình đó chẳng phải mang đến đã cho con người ta mọi điều tốt đẹp, như sách Khuyết giới toàn thư nhận định: Bể tình dục lấp mãi không đầy thành sầu khổ phá mãi không tan, vì vậy món nợ tình cảm ở đây cần hiểu là món nợ của thương yêu, quý mến, gia ân. Nếu có điều kiện, thời gian, hoàn cảnh cũng có thể trang trải tượng trưng để lưu lại chữ tình, nhưng cũng có nhiều tình thế khó xử không thể cân, đong, đo đếm được, đành để kiếp sau. Một tích cổ kể câu chuyện vua muốn thử tài trí tân Trạng Nguyên nên đưa ra tình huống khó xử: Trên một con thuyền bị đắm có ba người là đức vua, thày dạy và cha đẻ đều gặp nguy hiểm đến tính mạng, vậy sẽ cứu ai trước? Nếu chủ định cứu một trong ba người thì Trạng Nguyên sẽ mắc một trong ba tội lớn: bất trung, bất hiếu hoặc bất nghĩa. Nhưng Trạng trả lời nhanh và dứt khoát là, cứ nhảy xuống sông, quờ được ai trước thì cứu trước. Tuy cách ứng phó ngẫu nhiên rất thông minh nhưng giả thiết có chuyện này thật thì món nợ dưới sông với hai người còn lại biết bao giờ trả xong? Chắc cũng khó khăn, trắc ẩn như chuyện của Trương Chi và Mỹ Châu: Nợ tình chưa trả cho ai? Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan!

11

Thế giới có thể đại đồng về mặt lý thuyết, nhưng thực tế trên đời người không tránh khỏi va chạm, xích mích gây ân oán to nhỏ trên dưới, xa gần nhằng nhịt như dây leo không thể giũ bỏ triệt để được, vì thế tha thứ là báu vật của mọi quan hệ và lòng khoan dung là quà tặng đáng giá nhất trên đời. Đức Thích Ca dạy: Oán trả oán, oán ấy chồng chất, lấy ân trả oán, oán ấy tiêu tan Sách Luận ngữ cũng viết: Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân. Phương pháp luận của Lão Tử cụ thể hơn: Với kẻ lành, lấy lành mà ở, với kẻ chẳng lành, vẫn lấy lành mà ở. Với kẻ thành tín, lấy thành tín mà đãi, với kẻ không thành tín vẫn lấy thành tín mà đãi. Nghĩ kỹ thêm mới thấy, hai chữ khoan dung thốt ra nhẹ nhàng biết bao nhiêu mà thực hành lại nặng nề bấy nhiêu, bởi nếu lòng dạ hẹp hòi không chứa nổi hai chữ ấy. Cách tốt nhất là chủ động: không nên lấy cái hay của mình mà trách cái không hay của người. Không nên lấy cái sở trường của mình mà trách cái sở đoản của người. Khi trách người, thì đừng nên khoe mình. Tuy vậy, sách Minh Tâm Bảo Giám viết: ở đời chẳng việc gì khó Không xong việc là do lòng mình không chú trọng. Thà kết ơn làm nghĩa với nhiều người, chớ nên gây oán với một người. Nên nhịn những việc khó nhịn, tha thứ những người không sáng suốt. Lòng khoan dung không những cởi mọi ân oán tạo nên cách sống cao thượng, mà còn chính là nguồn phúc để lại cho đời sau vì: Chứa vàng để lại cho con cháu chưa chắc đã giữ được, chứa sách để lại cho con cháu chưa chắc đã học được, cách để lại lâu dài cho con cháu không gì bằng chứa âm đức ở trong chỗ minh minh!

Theo Tạp chí Hà Nội Ngàn năm số 33, 34, 35

NO-TITLE: Feeling a bit…

Tháng Chín 20, 2006

Suddenly feeling the endless sadness, then like a shooting star, quickly passing through the eyes, tearing the private sky.

You, the fist yellow leave of the Autumn, forever hiding and appearing up and down among the green, immense, remote an innermost feelings…

VÔ ĐỀ

Bỗng nhiên thấy buồn vạn dặm, rồi như một ánh sao băng, vụt nhanh trong mắt, xé dài một khoảng trời riêng.

Em, chiếc lá vàng đầu tiên của mùa Thu, cứ mãi ẩn hiện thác gềnh giữa vô cùng xanh biếc. Rằng rặc, xa xa một nỗi niềm.

Lênh đênh cõi Thiền, nghiêng say cõi Phật. Giật mình bởi tiếng lá rơi. Hướng về phố nhỏ, ngõ về một thoáng đơn côi.

Bồi hồi nhớ một câu thơ cũ, những cốm thơm, hoa sữa. Trăng và rượu, gió và mây, sáo diều vi vu gọi nắng. Thương ơi! hương lúa giữa đồng.

Chiều như chậm dần, lá như vàng thêm. Bồng bềnh trong khói vân sương, những cánh chim trời mờ mờ trôi về xứ lạ. Đất và Trời, Đạo và Đời như giao hòa.

Thấy thèm được nói và gửi cho nhau một câu tiếng Việt. Thèm được sẻ chia, được nhận và trao cùng bốn mùa mưa nắng, cay và đắng, ngọt và bùi, hạnh phúc và khổ đau.

Ôi lung linh ánh nguyệt, thân thương địa cầu, mênh mông vũ trụ!

Giang Hương, 20-Sep-2006

Tam Giao – Bat Nhi Hoa Dong

Tháng Chín 5, 2006

This is a good brief review and discussion about Three Religions (Buddhism, Confucianism and Faoism), which are strongly embeded in the culturral life of people in China and Vietnam. Agree or do not agree about the ego of yourself, our activities, thinkings or life styles are less or more influenced by Three Rereligions! (Le Chi Hieu).

Nếu có một tôn giáo nào có thể đáp ứng với những nhu cầu của khoa học đương thời thì đó chính là Phật Giáo – Albert Einstein.

If there is any religion that would cope with modern scientific needs it would be Buddhism – Albert Einstain.

(Lời bàn: Ở cuối bài viết, tác giả có kết luận: Tam giáo thật sự không đem lại một nếp sống tâm linh lành mạnh cho các dân tộc Á Đông chúng ta. Cái ý chủ quan này không hợp tình hợp lý lắm, phân tích khoa học mà cũng không khoa học, có tình mà cũng không tình, có lý mà cũng không phải lý. Tuy nhiên cũng có thể cảm thông hơn một chút ở đây vì tác giả là người theo Tin Lành, cổ động cho Đạo Tin Lành. Vì vần tóm lược về Tam Giáo khá gọn và dễ hiểu, nên tôi đăng lại bài này ở đây để tham khảo mà thôi. Tri thức là vô cùng vô tận, thông tin thì bốn bề như suối chảy, cái sự đọc và sự hiểu của mỗi người có khác, vì lí do này mà người đọc cũng cần phải sàng lọc thông tin một cách ích lợi cho bản thân mìnhLê Chí Hiếu)

Tam Giáo: Hòa nhi bất đồng
Tác Giả: Lê Anh Huy & Huỳnh Chrítian Timothy

Dẫn nhập

Thánh Kinh dạy rằng: Nếu hai người không đồng ý với nhau, thì há cùng đi chung được sao?” (A-mốt 3:3). Như vậy, muốn đồng hành thì hai người cần phải đồng thuận. Không thể đồng hành nếu không có sự đồng thuận. Sự đồng thuận là mẫu số chung. Khi có chung mẫu số thì có thể bù trừ cho nhau để cùng tồn tại.

Tam Giáo: Phật, Khổng, Lão là nền móng văn hoá đặc thù (tức là nếp suy nghĩ, và lối sống riêng biệt) của người Trung Hoa và người Việt Nam. Theo lẽ tự nhiên, khi “đồng hành” với nhau suốt nhiều ngàn năm như vậy Tam Giáo phải có sự thống nhất về triết lý và thực hành, để cho các kiến trúc thượng tầng được đứng vững. Tuy nhiên, trong thực tế, Tam Giáo đầy dẫy những sự mâu thuẫn. Giáo lý của giáo này phủ nhận hoặc đối chọi với giáo lý của giáo kia. Vậy thì, đâu là mẫu số chung đã giúp cho Tam giáo đồng hành và tồn tại suốt chiều dài lịch sử cho đến ngày hôm nay? Trong bài này, chúng tôi bàn về cái lẽ “hòa nhi bất đồng” của Tam Giáo.

I. Triết lý và tín ngưỡng của Tam Giáo

Trước hết chúng ta hãy xét về triết lý của mỗi giáo:

1. Lão Giáo:

Lão Giáo không tôn thờ một thần linh nào cả, cũng không tôn thờ ông bà, tổ tiên. Lão Giáo quan niệm vạn vật phát nguyên từ một thực thể mà không ai biết được thực thể ấy là gì, Lão Tử tạm gọi đó là “Đạo”:

“Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sanh…
Ngô bất tri kỳ danh, tự viết Đạo.”
“Có vật hỗn độn mà thành, sinh ra trước cả trời đất…
Ta không biết tên là gì, tạm gọi là Đạo.”
[1]

Lão Giáo cho rằng vạn vật do “Đạo” sinh ra và “Đức” nuôi dưỡng, bảo tồn:

Đạo sinh chi, Đức xúc chi, trưởng chi, dục chi, đình chi, độc chi, dưỡng chi, phúc chi.”
“Đạo sinh ra nó, Đức chứa đựng nó, làm cho nó lớn, làm cho nó sống, làm cho nó hiện ra hình, làm cho nó thành ra chất, nuôi nấng nó, và che chở nó.”
[2]

“Nó” trong câu văn là bất kỳ một thực thể nào trong vũ trụ. Lão Tử không luận về nguồn gốc hay ý nghĩa của Đức. Xem ra, trong Đạo có Đức. Đạo là nguồn gốc bản thể (vật chất) của vật, Đức là nguồn
gốc năng lượng
khiến cho vật năng động. Cả Đạo lẫn Đức đều không phải là một Thần Linh Cao Siêu Tuyệt Đối, hay một thực thể có thân vị. Dù vạn vật ra từ Đạo, nhưng Đạo không phải là Đấng Tạo Hóa. Dù vạn vật năng động nhờ Đức, nhưng Đức không phải là Đấng Quan Phòng.

Lão Tử đề xướng thuyết Vô Vi, nghĩa là không theo ý riêng tư mà làm gì cả, sống thản nhiên theo định luật tự nhiên sinh và động của Đạo và Đức.

2. Khổng Giáo:

Khổng giáo thật ra là một học thuyết về chính trị và an sinh xã hội. Khổng Giáo dạy về việc “bình thiên hạ”, nghĩa là cách thức làm chính trị sao cho xã hội có tôn ti trật tự, người người no ấm, nhà nhà hiếu nghĩa. Muốn thế, theo Khổng Tử, phàm mọi sự đều phải “Chính Danh”, nghĩa là tên gọi như thế nào thì phải hành xử đúng như thế ấy. Thí dụ: vua thì phải hành xử như bậc vua, tôi thì phải hành xử như bậc tôi… Vấn đề là: lấy gì làm cái tiêu chuẩn để mà hành xử cho đúng với danh xưng? Và, Khổng Tử đặt ra một loạt “Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức…” để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.

Tam Cương và Ngũ Thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo. Tam Tòng và Tứ Đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức thì xã hội được an bình.

2.1 Tam Cương: Tam là ba;Cương là giềng mối; Tam Cương là ba mối quan hệ: Quân thần (vua tôi), Phụ tử (cha con), Phu thê (chồng vợ). Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt công minh, tôi trung thành một dạ. Trong quan hệ cha con, cha nuôi dạy con cái, con cái hiếu kính vâng phục cha và khi cha già thì phải phụng dưỡng. Trong quan hệ chống vợ, chồng yêu thương và công bình với vợ, vợ vâng phục và chung thủy giữ tiết với chồng.

2.2 Ngũ Thường: Ngũ là năm; Thường là hằng có; Ngũ Thường là năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật. Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải. Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người. Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai. Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy.

2.3 Tam Tòng: Tam là ba; Tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” nghĩa là, người phụ nữ “khi còn ở nhà phải theo cha, lúc lấy chồng phải theo chồng, nếu chồng qua đời phải theo con”

2.4 Tứ Đức: Tứ là bốn; Đức là tính tốt. Tứ Đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: Công – Dung – Ngôn – Hạnh. Công: khéo léo trong việc làm. Dung: hòa nhã trong sắc diện. Ngôn: mềm mại trong lời nói. Hạnh: nhu mì trong tính nết.

Về phương diện tín ngưỡng, Khổng Giáo thờ Trời và thờ quỉ. Theo Trần Trọng Kim:

Xem thế thì biết rằng người đời xưa lấy việc tế tự làm quan trọng lắm, mà trong sự tế tự của người Tàu có cái đặc sắc là việc thờ cúng tổ tiên. Sách Lễ Ký nói rằng: “Vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ: Muôn vật gốc ở Trời, người gốc ở tổ.” Ngoài việc thờ Trời ra thì việc thờ tổ tiên là trọng hơn cả. Trời thì chỉ có Thiên Tử mới được tế mà thôi, còn tổ tiên thì từ vua quan cho chí nhân dân, ai cũng phải thờ. Sự thờ cúng ấy do sự tin rằng lúc người ta chết rồi thể phách tan nát đi, nhưng tinh anh hãy còn, thành ra quỉ. Quỉ cũng thiêng-liêng như thần, có thể can thiệp đến việc người và phù hộ con cháu.” [3]

3. Phật Giáo:

Còn đạo Phật thờ gì và thờ ai? Đạo Phật chính tông không thờ cái gì và ai cả, ngay cả Phật tổ. Thích Ca đã dạy đệ tử về chính mình như sau:

Này Ananda, không phải như vậy là tôn trọng, kính cẩn, sung bái, làm vẻ vang Như lai đâu. Bất luận vị tỳ khưu nào, bất luận vị tỳ khưu ni hay thiện nam, tín nữ nào hành đúng theo Giáo Huấn, phẩm hạnh trang nghiêm, đời sống chân chính, là người tôn trọng, kính cẩn, sung bái và làm vẻ vang Như lai theo cách cao thượng nhất. Như vậy, này Ananda, con phải chuyên cần tu tập, hành động đúng theo Giáo Huấn, phẩm hạnh trang nghiêm, sống đời chân chính [4].”

Theo Phật giáo chúng sinh (mọi thực thể trong ba cõi trời, người, quỷ) là một tập hợp của ngũ uẩn [5], khi chúng sinh chết đi, thì ngũ uẩn đó sẽ không còn hiện hữu. Nếu nghiệp lực còn, thì sẽ có một ngũ uẩn khác đầu thai trong một kiếp khác. Trong Phật giáo linh hồn không hiện hữu. Như vậy khi ông bà chúng ta chết, thì ngũ uẩn mà chúng ta gọi là “ông bà” không còn nữa. Nếu nghiệp lực của họ còn thì nghiệp họ làm trong kiếp trước sẽ sinh ra kiếp sau, tức là một ngũ uẫn mới dính dáng gì đến ngũ uẩn cũ chỉ qua nghiệp lực của vô lượng tiền kiếp. Nếu tin rằng ông bà sau khi qua đời đi đầu thai vào kiếp khác thì tại sao cứ mỗi ngày kỵ giỗ, hay tết nhứt lại thắp hương lầm thầm mời ông b
về ăn cơm với con cháu?

II. Những dị biệt và mâu thuẫn của Tam Giáo:

1. Lão Giáo bài bác Khổng Giáo:

Lão Tử cực lực lên án triết lý của Khổng Giáo. Luận về Đạo Ngũ Thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) của Khổng Giáo, Lão Tử nói:

“Thất Đạo nhi hậu Đức, thất Đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ, phù lễ giả trung tín chi bạc nhi loạn chi thủ”
“Mất Đạo mới tới Đức, mất Đức mới tới nhân, mất nhân mới tới nghĩa, mất nghĩa mới tới lễ. Ôi, lễ ấy là sự mỏng manh của lòng trung tín mà mở đầu của loạn lạc.” [6]

Quan niệm về Đạo và Đức của Lão Giáo hoàn toàn đối nghịch với Khổng Giáo. Trong khi Khổng Giáo đề cao thuyết “Chính Danh”, lập ra tiêu chuẩn “Tam Cương”, “Ngũ Thường”, “Tam Tòng”, “Tứ Đức”, xem đó là tột đỉnh của sự tu thân để đạt tới mức tột cùng của Đức mà “bình thiên hạ” (“Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”) [7] thì Lão Giáo cho rằng:

“Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường Danh.”
“Đạo mà có thể gọi là Đạo, không phải là Đạo thật.
Danh mà có thể gọi là Danh, không phải là Danh thật.
[8]

Lão Giáo chủ trương sống tự nhiên theo “đạo” (định luật) của trời đất. Khổng Giáo khuôn tập con người vào những bổn phận, trách nhiệm. Đạo của Lão Giáo là luật tự nhiên, Đức của Lão Giáo là khả năng sinh tồn theo luật tự nhiên. Đạo của Khổng Giáo là sự áp đặt một trật tự đẳng cấp, Đức của Khổng Giáo là sự rèn luyện ý chí thi hành cái trật tự ấy.

2. Khổng Giáo mâu thuẫn với Phật Giáo:

Trong khi Khổng Giáo kêu gọi kiến tạo một xã hội có tôn ti trật tự theo Thuyết Chính Danh thì Phật Giáo phủ nhận tất cả các “Danh”. Khổng Giáo nổ lực xây dựng “ngã”, hướng dẫn mọi dục vọng của con người đi vào khuôn khổ của một thứ đạo đức phân biệt đẳng cấp thì Phật Giáo kêu gọi diệt trừ dục vọng và phủ nhận bản ngã của mọi thực thể.

3. Phật Giáo khác với Lão Giáo:

Phật Giáo chủ trương chúng sinh đau khổ vì tham dục nên luân hồi triền miên trong vòng sinh tử cần “tu tập” để đi đến chỗ giải thoát khỏi sự luân hồi mà vào cõi Niết Bàn. Niết Bàn là chỗ/trạng thái đời đời không có đau khổ mà chỉ có an lạc và hiểu biết trọn vẹn. Sự tu tập trong Phật Giáo là làm điều thiện cho mọi chúng sinh, hướng vào nội tâm để dập tắt mọi tham dục mà nhìn thấy bản chất chân thật của mình. Trong khi đó, Lão Giáo chủ trương đói ăn, khát uống… con người và vạn vật cứ theo lẽ tự nhiên mà biến hóa, chẳng cần tu tập, chẳng cần quán chiếu (chiêm nghiệm nội tâm để tìm chân lý) gì cả.

Kết luận:

Ba tôn giáo, Phật Giáo, Khổng Giáo và Lão Giáo về cơ bản mâu thuẫn lẫn nhau. Sự hòa nhập của ba giáo này suốt mấy ngàn năm nay, chẳng qua chỉ là một hình thức gạn lọc những gì thích ứng với lòng người, tạo ra một thứ tôn giáo mới gọi là “Tam Giáo”. Xương cốt của Tam Giáo là Nho Giáo, với vai trò luật pháp và lương tâm nhằm duy trì trật tự xã hội. Lão Giáo phủ lên Tam Giáo chiếc áo choàng thần bí biến dạng thành các thứ mê tín dị đoan, bùa phép để đáp ứng những nhu cầu tâm linh lẫn vật chất. Phật Giáo như vầng hào quang chiếu ngời trên Tam Giáo, thể hiện qua những việc làm lành tích đức kèm theo ảo vọng về một “kiếp sau” tốt đẹp hơn. Với những mâu thuẫn nội tại dẫn đến những chấp nối, vá víu, biến dạng như vậy, Tam giáo thật sự không đem lại một nếp sống tâm linh lành mạnh cho các dân tộc Á Đông chúng ta.

Lê Anh Huy
Huỳnh Christian Timothy

07/31/2006

Trích dẫn, chú thích, và tham khảo:

1- Lão Tử, Đạo Đức Kinh, chương 51

2- Lão Tử, Đạo Đức Kinh, chương 25

3- Trần Trọng Kim, Nho giáo, Tập I, 4th, Tủ Sách Tân Việt, tr. 41

4- Hòa thượng Narada, Phạm Kim Khánh dịch, “Đức Phật Nhập Đại Niết Bàn,” trong Đức Phật và Phật Pháp, www.saigon.com/~anson/uni/u-dp&pp/dp&pp14.htm

5- Lê Anh Huy, “Vô Ngã,” http://thanhkinhthanhoc.net/tkth/?q=node/30

6- Lão Tử, Đạo Đức Kinh, chương 38

7- Chính Danh = Tên gọi thế nào phải hành xử đúng theo thế ấy;

8- Lão Tử, Đạo Đức Kinh, chương

Activation of the topics

Tháng Tám 31, 2006

All the writings, collections and composition will be categarized into different topics!

The beauty of poetry

Tháng Tám 18, 2006

The beauty of poetry – Cái Đẹp Của Thơ

By Giang Huong, Wales, UK.

The same to the art of Painting and Photographing, Poetry helps realising the beauty appeared and disappeared around us, helps returning to be YOU, being yourself, via the viewing angles and emotions of the souls. The beauty of the Poetry appears in thousands of styles, models and shapes, looming in the sunny and raining, hiding inside the flowers and leaves, and in the endless road of life, society and the world….

Cũng như nghệ thuật Hội Họa và Nhiếp Ảnh, Thơ giúp ta nhìn thấy cái Đẹp luôn ẩn hiện ở bên mình, giúp cho ta trở về với chính mình qua những góc nhìn và xúc cảm của tâm hồn. Cái Đẹp trong thơ có muôn vàn khuôn hình, từ ẩn hiện trong nắng, trong mưa, tới giấu mình trong hoa, trong lá, và trong điệp điệp khôn cùng những thân phận của đời người, của xã hội và thế giới quanh mình.

Cái đẹp của Thơ luôn mềm mại lan tỏa trong trí tưởng, ru ta vào giấc ngủ, đưa ta trở về với tuổi thơ, về với những ngày xưa yêu dấu, và rồi lại trở về với thực tại, với chính mình. Cái đẹp của Thơ luôn nuôi dưỡng tâm hồn hướng thiện, để rồi ta ngày càng mạnh mẽ hơn, tự tin hơn, và lạc quan hơn khi tiếp cận tới những ngày mai vô định. Bởi thơ luôn ẩn chứa trong mình những triết lý sống, những ý niệm, những sẻ chia của con người với con người, và những tình cảm của con người với những tồn tại trong vũ trụ bao la này.

Xứ Wales đang mùa cuối Hạ, mưa nhiều hơn và hơi se se lạnh. Từng mảng mây trời lững lờ trôi trong ký ức. Lãng đãng đâu đây vài giọt nắng, giọt mưa, cứ ẩn rồi hiện, mênh mang và bất chợt đến nao lòng. Rồi tự hỏi, mình la ai nhỉ? Chao ôi, cái “Ai” vĩ đại, cái “Tôi” vĩnh hằng, cái “Tâm” vạn tuế. Bỗng nhớ tới những vần thơ của Emily, những ngôn từ và nhịp điệu câu chữ sao mà Đẹp và truyền cảm đến thế. Người ta nói, Âm nhạc không có biên giới, và có lẽ, nên nói thêm rằng, cái Đẹp của Thơ cũng không có biên giới.

Emily Dickinson sinh vào ngày 10 tháng 12 năm 1830 tại Amerst, Massachusetts, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Lớn lên trong một gia đình thuộc tầng lớp dưới trung lưu, bà có một anh trai và một chị gái. Emily luôn nghe lời Ba Mẹ, nhưng làm thì cô bé luôn làm những gì mà cô nghĩ là đúng với mình. Ba Mẹ của Emily nói rằng, Bé không nên ra ngoài bờ rào, vì có thể chạm phải những bông hoa có chất độc, hay bị rắn cắn đấy; thì cô bé đáp lại rằng, tất cả những gì con từng thấy ở đó là “những Thiên Thần”. Cô bé nói: họ nhút nhát hơn con, và đã biến mất rồi. Những thiên thần bé nhỏ mà cô bé Emily nói tới, có lẽ đó là những chú chim hay thú. Cô bé luôn yêu thích chúng.

Bài thơ “I’m nobody! Who are you?” – “Tôi không là ai cả! Còn bạn là ai?”, là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Emily. Chính phong cách thơ của Emily đã làm cho thơ Bà trở nên nổi tiếng. Emily là một người có óc quan sát rất tốt, bà viết về những điều bé nhỏ và giản dị mà bình thường bạn không để ý tới. Phương cách thơ của bà đó là sử dụng những “lối so sánh” (similes) và “phép ẩn dụ (metaphors). Chính vì vậy, càng đọc thơ của Emily, ta luôn khám phá ra được một cái gì đó mới mẻ, rất gần gũi và thân quen, nhưng mang một triết lý rất sâu sắc.

Nguyên bản bài thơ bằng Tiếng Anh và bản tiếng Việt của bài thơ này được chuyển ngữ ở dưới đây, Tôi cố gắng lược dịch sao cho vẫn giữ được ý tưởng chủ đạo của bài thơ.

I’m nobody! Who are you?
by Emily Dickinson

I’m nobody! Who are you?
Are you nobody, too?
Then there’s a pair of us — don’t tell!
They’d banish us, you know.

How dreary to be somebody!
How public, like a frog
To tell your name the livelong day
To an admiring bog!
Tôi không là ai cả! còn bạn là ai?
Tác giả: Emily Dickinson

Tôi không là ai cả! còn bạn là ai?
Bạn cũng không là ai cả phải không?
Vậy thì có một đôi chúng ta -Đừng tiết lộ nhé
Người đời có thể xa lánh chúng mình, bạn biết đấy.

Buồn biết bao khi là một ai đó!
Nổi tiếng, như một chú ếch
Gọi tên mình cả ngày
Trước vũng lầy ngưỡng mộ!

(Bản dịch của Giang Hương)

Người ta ai ai cũng luôn muốn trở thành người nổi tiếng. Và mọi người luôn nghĩ rằng, trở thành tâm điểm chú ý thì thật là tuyệt vời; như trở thành một ngôi sao màn bạc, một chính khách hay một vận động viên nổi tiếng. Nhưng đối với Emily, thì Tôi “không là ai cả”, vâng, Tôi không muốn là ai cả, mà Tôi chính là Tôi, là chính mình mà thôi; và thật buồn biết bao, khi mình là “một ai đó khác” mà không phải là chính Mình. Emily ngụ ý rằng, có một người bạn, người mà hiểu mình và chấp nhận mình như những gì mình vốn dĩ như thế, thì quan trọng hơn là trở thành một người khác được hâm mộ bởi nhiều người.

Và không phải hiển nhiên mà Oscar Wilde có quan niệm rằng “Hầu hết mọi người là những người khác. Những nghĩ suy của họ là quan niệm của một ai đó, cuộc sống của họ như một sự sao chép, những đam mê của họ như một sự trích dẫn” (Most people are other people. Their thoughts are someone else’s opinions, their lives a mimicry, their passions a quotation. ~Oscar Wilde, De Profundis, 1905).

William Shakespeare, thiên tài soạn kịch và thi sĩ người Anh, có nói “God has given you one face, and you make yourself another“, có nghĩa là “Chúa đã cho bạn một khuôn mặt, và chính bạn tạo dựng thành một khuôn mặt khác“. Vâng, trở thành một khuôn mặt khác, tốt hay xấu, tất cả là do chính ta tạo dựng nên mà thôi. Dù có thế nào đi nữa, thì hãy cứ là chính mình, tạo dựng một cái TÔI rất riêng của mình. Xin đừng đánh mất mình và không bao giờ trở thành cái bóng của người khác; không bao giờ là chú ếch – suốt ngày gọi tên mình trước vũng lầy ngưỡng mộ.

August 2006, Wales, UK

My Son – By LeAnn Thieman

Tháng Bảy 24, 2006

The war was far from Saigon when I agreed to escort six babies from Vietnam to their adoptive homes in the U.S. Still, the decision to leave my husband and two little girls had not been easy. When the war escalated, I had begged God for a sign that I could back out of my commitment, but He only filled me with a courage and confidence I could explain to no one. Somehow I knew this was all a part of His plan. By the time I landed in Saigon, bombs were falling outside the city limits, Vietnam was falling to the Communists, and President Ford had okayed Operation Babylift. Scores of the estimated 50,000 Amerasian babies and toddlers were herded into our headquarters of Friends of Children of Vietnam in preparation for the airlift.

On my third day there, over breakfast of bread and bottled Coke, Cheri, the director said, “LeAnn, you’ve probably figured this out. . . . ”
I hadn’t.

“You and Mark applied for adoption of a son through us and we told you to expect him in two years.” She spoke above the din of dozens of bawling babies. “Obviously everything has changed. You’ll be assigned one of the babies gathered here – or,” she paused to touch my hand, “or you can go into the nursery and choose a son.”

I was stunned speechless.

I felt myself flush with excitement–then with fear.

“Really?” I finally croaked. Surely I had heard her wrong.

Cherie’s tired eyes danced. “Really.”

“So I can just go in there and pick out a son?”

Cherie nodded again.

Dazed, I turned to my friend and traveling companion, Carol. “Come with me.” She jumped up immediately and we approached the door to the nursery together.

I paused and took a deep breath. “This is like a fantasy. A dream come true.”

I opened the door and we entered a room filled with babies. Babies on blankets and mats. Babies in boxes and baskets and bassinets and cribs.

“Carol, how will I ever choose? There are 110 babies here now.”

One baby in a white T-shirt and diaper looked at me with bright eyes. I sat cross-legged on the floor with him on my lap. He seemed to be about nine months old and responded to my words with cute facial expressions and animation. He giggled and clapped his hands.

“We should name you Personality,” I said. Then I noticed he was wearing a name bracelet on his ankle. He had already been assigned to a family in Denver. Well, I thought, feeling disappointment rising in my throat, that family is mighty lucky.

Another child caught my eye as he pulled himself to his feet beside a wooden crib. We watched with amusement as he tugged the toes of the baby sleeping inside. Then he dropped to his hands and knees and began crawling to me. I met him halfway across the room and picked him up. He wore only a diaper and his soft, round tummy bulged over its rim. He looked at me and smiled brightly, revealing chubby cheeks and deep dimples. As I hugged him he nestled his head into my shoulder.

“Maybe you’ll be our son,” I whispered. He pulled back, staring into my eyes, still smiling. For the next hour, I carried him around the room, looking at each infant, touching them, talking to them. All the while, the baby in my arms babbled, smiled, and continued to cuddle. I couldn’t bring myself to put him down as we went upstairs where the floor was carpeted with even more babies. The hallway was like a megaphone, blasting the sounds of chattering workers and crying babies.

“Let me hold him,” Carol coaxed, “while you look at the others.” The couch against the wall held a half-dozen fussy infants side by side. I picked up each of them. Most seemed stiff and unresponsive. How sad that cuddling could be unfamiliar to them. I weaved my way to the blanket of babies at the end of the room and sat caressing each of them. As I cradled one in my arms, I could feel the bones of his spine press against my skin. Another’s eyes looked glazed and motionless. Sorrow gripped me.

I felt the little boy Carol was carrying for me pat my arm. As I turned to look, he reached his chubby arms out for me. Taking him from her, I snuggled him close and he snuggled back. Someone had loved him very much.

Downstairs, we meandered from mat to crib looking at all the infants again. I wished I could adopt them all. But I knew there were long waiting lists at the Denver headquarters of hundreds of families who had completed the tedious, time-consuming application process. Each of these precious orphans would have immediate homes carefully selected for them.

“How do I choose?” I asked myself as much as Carol.
The baby boy in my arms answered by patting my face. I had never missed my husband more. “I wish Mark was here.”

I turned my full attention to the child I held, waving my hands in front of his face to check his eyes. He blinked and flashed his dimples.

I snapped my fingers by his ears in a foolish attempt to test his hearing. He turned his head, giggled, and grabbed at my hands.

Then I sat on the floor slowly rocking him back and forth in my arms. I whispered a prayer for the decision I was about to make, a decision that would affect many lives forever. The baby nestled into the hollow of my neck, reassuring me that the choice I was about to make was the right one. I could feel his shallow breath and tender skin as he embraced me.
&nb sp; I recalled all the data we had collected for adoption, all the letters of references from friends, bankers, employers, all the interviews with the social workers.

It had all been worth it for this moment.

We rocked in silence and cuddled. Then, with immense joy, I walked back through the nursery door to the office.

“Meet our son, Mitchell Thieman!” I announced, hardly believing my own words. Everyone gathered around and embraced us. I looked at Mitchell’s puzzled face and held him closer. Cheri brought a nametag and I eagerly scrawled on it “Reserve for Mark Thieman” and placed it on his ankle.

Joyful tears streamed down my cheeks. For a moment all my fears were gone. I no longer wondered why I had been driven to make this journey. “This is why God sent me to Vietnam,” I whispered.

I had been sent to choose a son.
Or had he chosen me?

Reprinted by permission of LeAnn Thieman (c) 2005 from Chicken Soup for the Mother and Son Soul by Jack Canfield, Mark Victor Hansen, LeAnn Thieman and Barbara LoMonaco. In order to protect the rights of the copyright holder, no portion of this publication may be reproduced without prior written consent. All rights reserved

Source: Chicken Soup for the Soul.