Archive for Tháng Chín 2006

A few beautiful words of the Buddhism

Tháng Chín 28, 2006

A few beautiful words of the Buddhism

First words: The biggest fortune of our life is the health

Second words: The saddest thing in our life is the jealousness

Third words: The biggest enemy in our life is inside ourselves

Fourth words: The biggest happiness in our life is to know how to forgive

Một số lời nói hay của nhà Phật

Lời nói thứ nhất: Của cải lớn nhất của đời người là sức khỏe

Câu nói này mặc dù ai cũng biết, nhưng thực sự lĩnh ngộ được không phải là chuyện dễ. Xin hãy thử xem người xưa, người nay, người trong nước, người nước ngoài, đã mấy người thoát khỏi vòng mê hoặc, dụ dỗ của danh của lợi… Những người ấy thường coi danh lợi, bổng lộc. tình yêu là cái theo đuổi cao nhất của cuộc đời, mà không biết rằng của cải lớn nhất của đời người chính là sức khỏe của mình. Có một câu chuyện cổ kể rằng. có một người ham mê của cải hơn mạng sống, anh ta lạc vào một núi vàng. lúc đầu sung sướng như điên vì lấy được nhiều vàng bạc châu báu, nhưng rồi bi lạc trong núi vàng, bỏ xác tại đó. Có thể nói rằng, sức khỏe là cái quý báu nhất, và cũng là của cải lớn nhất của đời người. Nếu ta không hiểu được điều này thì bất kể danh lợi gì, ham muốn gì đều trở nên vô nghĩa.

Lời nói thứ hai: Cái đáng thương nhất trong cuộc đời là lòng đố kỵ

Đố kỵ là điều thường gặp nhất trong cuộc sống. Lý Tư vì đố kỵ tài năng của đồng học Hòa Phi nên đã gièm pha với vua Tần, khiến Hòa Phi phải chết trong ngục. Bàng Quyên vì đố kỵ học thức của Tôn Tẫn hơn mình, nên đã dùng độc kế hãm hại bạn, khiến Tôn Tẫn trở thành người tàn phế. Nếu xem xét thì những lời nói hay của nhà Phật, chúng ta sẽ thấy Lý Tư và Bàng Quyên đều là những kẻ đáng thương. Bọn họ có thể để ý một dạo, nhưng cuối cùng vẫn không được chết yên bình. Đố kỵ là một bệnh tật, người có bệnh đố kỵ suốt đời không bao giờ được yên ổn. Bọn họ, hôm nay sợ người này vượt qua mình, ngày mai lại lo lắng vì người khác đi trước mình rồi, suốt ngày bọn họ sống trong cảnh tật bệnh đáng thương. Ngược lại, những người công thành danh toại chân chính trong lịch sử đều là những người coi đố kỵ là một điều sỉ nhục. Âu Dương Tu là lãnh tụ trên văn đàn thời Bắc Tống, năm đó sau khi ông biết và lựa chọn Tô Đông Pha, có người nói với ông rằng: “Tô Đông Pha là bậc kỳ tài, nếu ngài chọn Tô Đông Pha thì chỉ sợ 10 năm sau, người trong thiên hạ chỉ biết Tô Đông Pha chứ không biết ngài là ai nữa”. Nhưng Âu Dương Tu chỉ cười và vẫn đề vạt Tô Đông Pha. Người đời sau vì thế càng sùng kính Âu Dương Tu.

Lời nói thứ ba: Kẻ thù lớn nhất trong cuộc đời là chính mình

Câu nói này rất quan trọng. Trong cuộc đời chúng ta thường có một số kẻ thù, như bọn lưu manh, vô lại, kẻ tiểu nhân… Bọn cầm thú mặc quần áo người đó vô cùng tàn ác, nhưng nếu nhìn thấu, thì bọn chúng cũng chỉ là lớp cặn bã. Kẻ thù lớn nhất của con người chính là mình. Một người nếu chiến thắng được mình thì cái gì cũng công phá được, sẽ là người bách chiến bách thắng. Cái đáng sợ là tự mình mắc bệnh mà không biết: Có khi do dự không quyết, có lúc lại đánh giá mình quá cao; có khi tự cao tự đại, có lúc lại sùng bái người… chỉ có chiến thắng bản thân mới có thể mở ra được cục diện vững chắc.

Lời nói thứ tư: Hạnh phúc lớn nhất của đời người là biết buông tha

Trong xử thế, dám nắm lấy là dũng khí, dám buông ra là độ lượng. Phần lớn những người có kinh nghiệm xử thế đều xem thường những hoa tươi, tiếng vỗ tay… trên đường đời, nhưng người đã trải qua nhiều lần mưa gió lại càng tự tin hơn, vững vàng bản lĩnh. Nhưng nếu nhìn nhận một cách bình thường đối với những gập ghềnh, bùn lầy… trong cuộc sống, thì không phải là điều dễ làm. Có thể không hoảng hết, có thể thản nhiên chịu đựng những trở ngại lớn, những tai họa lớn, chính là vì có lòng độ lượng. Nhà Phật lấy lòng độ lượng dung nạp mọi việc trong thiên hạ làm nguồn vui, đã đến rồi thì hãy ở yên mà thích ứng với hoàn cảnh là một loại siêu thoát. Những loại siêu thoát đó đòi hỏi rèn luyện nhiều mới thành. Biết nắm lấy thực đáng quý, nhưng biết buông ra mới là đạo lý chân chính xử thế trong đời.

(Nguồn: Tạp chí Trí tuệ)

Dưới đây là một sưu tầm khác, có cách viết khác và thêm một chút lời hay của cổ nhân, dựa vào triết lý của Tam Giáo:

Những điều răn của cổ nhân

Xã hội phát triển đến mức nào đi nữa thì những giá trị truyền thống phương Đông, tức là cội nguồn văn hóa của mỗi dân tộc Châu Á vẫn cần phải được bảo tồn và trân trọng. Tuy là vốn cổ, nhưng nếu xét về nhân sinh quan đối với con người hiện đại thì dường như không cổ chút nào hay nói đúng hơn là câu chữ cũ, còn ý nghĩa thực tế vẫn hoàn toàn mới mẻ.

Đây chính là điều đáng bàn luận và suy ngẫm, vì như sách “Minh tâm bảo giám” nhận xét: “Người xưa tuy hình dáng như thú, nhưng lòng như có đại thánh ở trong. Người nay tuy hình dáng người nhưng lòng lại thú, biết đâu mà lường. Có lòng không có tướng, tướng sẽ tự lòng mà sinh ra. Có tướng mà không có lòng, tướng sẽ theo lòng mà mất đi”. Phải chăng, vì lẽ ấy mà vô số điều khuyên răn của các bậc tiền bối vô cùng hữu ích cho cách đối nhân xử thế của những người chịu ảnh hưởng giáo dục của Nho giáo, Phật giáo. Tựu trung lại, đó chính là những tâm bệnh như sau:

1

Không có kẻ thù nào to lớn và nguy hiểm bằng chính bản thân ta. Tà ý xấu xa vốn là kẻ thù tiềm ẩn lớn nhất của đời người mà tự ta khó vượt qua nổi. Thật là nghịch lý khi bao khó khăn, thử thách, gian nan do khách quan mà nhờ tinh thần, ý chí quyết tâm ta đều vượt qua. Nhưng, khi trong tâm có bệnh thì lại chịu thua, như dao sắc không gọt được chuôi vậy. Đúng như nhận định trong thế giới có bốn điều tự hủy hoại là: Cây nhiều hoa, quả nặng quá, sẽ gãy cành, rắn độc mang nọc độc nhưng lại bị giết để lấy nọc, kẻ làm việc nước không hiền tài, thì sẽ hại dân hại nước, kẻ làm điều bất thiện sẽ bị quả báo, cho nên sách Kinh dạy rằng: “Sự độc ác do tâm sinh ra, sẽ quay lại tự hại bản thân mình, cũng như sắt tạo ra chất gỉ rồi chất han gỉ ấy sẽ tiêu hủy dần thân hình của sắt”. Suy nghĩ xa hơn và kỹ hơn về giáo lý ấy thì càng rõ, nếu ta không vượt qua được chính bản năng của mình thì lương tâm và trí tuệ, lương tâm và trí tuệ của ta cũng sẽ bị xói mòn mục ruỗng, chẳng mấy chốc mà thành phế nhân. Ngạn ngữ vẫn cho rằng: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, nội dung bên trong hoặc phần tinh thần không nhìn thấy được ấy mới quyết định bản chất của một chính nhân thực thụ, bởi đơn giản là: “Con người biểu lộ tính ưu việt của mình ở bên trong, chỉ có con vật mới lộ ra bên ngoài thôi”.

2

Những thất bại lớn nhất của con người đều do tính tự cao tự đại sinh ra. Sách Cảnh hành lục cho rằng: “Sự tự mãn (tự cho mình đầy đủ) làm cho mình hư. Sự kiêu căng (tự cho mình giỏi) làm mình trở thành ngu. Chuyện kể rằng: Có đứa con nhà giàu không coi ai ra gì, thích đứng trên cây tè xuống đầu người đi đường, ai cũng ngại nhà ấy mạnh tiền của chẳng dám nói gì. Một hôm có đoàn quan binh đi qua dưới gốc cây, tay kia tè ngay vào viên quan văn đi đầu, viên quan này gật gù khen giỏi, rồi đi tiếp. Lúc sau viên quan võ đi qua, tay kia vẫn tiếp tục tái diễn trò ấy, nhưng không ngờ viên quan võ nóng tính bèn rút kiếm ra chém phăng đầu đứa xấu chơi. Người đời thường cười tên ngu dốt và thán phục mưu sâu của viên quan văn, nhưng cái chết thì vẫn dành cho kẻ cao ngạo. Chẳng thế những nước nông nghiệp vùng Đông Nam Á thường dùng biểu tượng cây lúa để đề cao tính khiêm nhường: khi cây mọc càng cao, càng trổ bông trĩu hạt chín vàng thì cây càng cúi thấp để tránh gió đồng ập đến. Lã Khôn thì rút ra bài học: “Khí kiêng nhất là hung hăng, Tâm kiêng nhất là hẹp hòi, Tài kiêng nhất là tự cao”, nếu không hiểu được những điều này thì sống trên đời chẳng mấy chốc sẽ thất bại.

3

Ngu dốt lớn nhất của con người là sự dối trá. Kinh Phật cũng liệt kê điều này vào trong 7 tội lỗi lớn nhất mà người muốn đắc đạo không được mắc phải. Tục ngữ cũng nhận định rằng: Đường đi hay tối, nói dối hay cùng. Trên phương diện y học thì nói dối hại tim, suy yếu phổi vì luôn ở tâm trạng đối phó bất ổn. Xét về khía cạnh tâm sinh lý, thì nói dối bao giờ cũng tạo ra những phản ứng trái ngược trong cùng một chủ thể, khiến con người luôn bí bức vì không thể sáng tạo mãi ra những điều không có thật. Đành rằng, cuộc đời là một sân khấu lớn, nhưng không phải tất cả những nhân vật biểu diễn trong vở kịch đều là nghệ sĩ vĩ đại, thế nên mới nói đổi vai diễn thì dễ còn nhập vai chính hoặc phụ đạt yêu cầu là cả một khoảng cách. Sở dĩ phải phân tích điều này vì lắm kẻ vẫn huênh hoang và tự hào về khả năng diễn vở trắng – đen mà không biết đang tự mua dây trói mình. Châm ngôn Trung Quốc nói: Nếu có lương tâm trong sáng cả đời bạn sẽ không phải sợ tiếng gõ cửa lúc nửa đêm. Còn Trình Di lại đúc kết rằng: Lấy lòng chân thật cảm động người ta, thì người ta cũng lấy chân thật mà đãi lại, Lấy cách trí thuật cài đạp người ta, thì người ta cũng lấy trí thuật mà xử lại. Nếu cứ lẩn quẩn mãi như thế, cuộc đời liệu có yên ổn và an nhàn không?

4

Nỗi bi ai lớn nhất của con người chính là lòng đố kị. Tính ganh ghét và đố kị như mốt ngọn lứa nhỏ leo lét trong tâm mỗi người. Với những ai điều chỉnh được bản thân hướng thiện thì sẽ chế ngự được ngọn lửa ấy và hóa nó thành khát vọng tốt đẹp ham muốn vươn lên, với những kẻ bản năng tầm thường thì ngọn lửa này sẽ thỏa sức cháy, thiêu rụi hết những gì gọi là nhân đức – giáo dục – văn hóa biến người ta thành một con thú hoang lồng lộn cắn xé giành giật miếng mồi và kết cục lại bị chính ngọn lửa tham này đốt cháy thành tro bụi. Đúng là: Lòng tham thì hại mình, Sướng miệng thì tổn thân! Bệnh ghen tị luôn khiến nội tâm con người bức xúc, hậm hực khó mà khuyên giải được nếu như không được thỏa mãn một tý chút gọi là. Thế mới biết, sự đời đâu phải chỉ con gà tức nhau tiếng gáy, mà con ngựa ghen nhau tiếng hí, con chó ganh nhau tiếng sủa, con chim đua nhau tiếng hót, còn con người thường ghen tị mà hãm hại lẫn nhau. Có lẽ nên tra lại Minh tâm bảo giám để ghi nhớ thêm một câu: Miếng ăn sướng miệng, sẽ sinh ra bệnh tật, việc làm thỏa chí, sẽ đưa tới tai vạ. tranh hơn chạy tắt hay thành ác, nói lỡ lời đâm ra tiếng đồn đại. Cho nên, để bệnh rồi uống thuốc sao bằng tự ngừa trước bệnh tật?

Nho giáo là một đạo học về cuộc sống có nội dung giản đơn chủ yếu thuận theo lẽ sống tự nhiên của khuôn khổ xã hội nhất định. Người có học Nho bao giờ cũng có chất nền nếp, giữ phép tắc, có lòng nhân đạo bác ái. Tuy nhiên, Nho giáo nhiều khi khó hiểu, rườm rà khiến cho người học khó theo kịp và không thể lấy mức nào để làm chuẩn mực. Chỉ có những tính chất trí tuệ và triết lý của Nho học là mang tính giáo dục lưu truyền phổ thông với tác dụng thực tiễn cao nhất, đặc biệt là về bản chất và phong cách sống của con người – đây là lĩnh vực mà cổ nhân đưa ra nhiều triết lý vô cùng sâu sắc:

5

Sai lầm lớn nhất của con người là tự đánh mất mình. Ta chỉ là một cá thể nhỏ, một hạt cát trong vũ trụ bao la và trên hành tinh có 7 tỷ cá nhân khác nhưng điểm khác biệt duy nhất khiến ta làm chủ được cuộc sống riêng không phải là cái tên khai sinh mà chính là sự khẳng định khác biệt với những người khác trong cá tính nhân cách, năng lực và tư duy phát triển vươn lên đa dạng. Ai cũng muốn tự khẳng định mình và càng muốn những người khác công nhận mình trong một hoặc nhiều lĩnh vực trong cuộc sống theo phương châm hiện đại: giỏi một – biết nhiều. Nhưng cũng nhiều người đã không tự chứng minh được mình mà còn đánh mất luôn cả bản thân vì những tác động khách quan bất ngờ và chủ quan không may mắn! Thường thì khách quan bị cột vào việc mất phẩm chất hoặc danh dự như vì nghèo quá hóa liều. Nhưng Lã Khôn cho rằng: Nghèo không xấu, nghèo mà không có chí mới là xấu, hèn không đáng ghét, hèn mà không có tài mới đáng ghét, già không nên than thở, già mà sống thừa mới đáng than thở, chết không nên bi ai, chết mà vô bổ mới đáng bi ai. Nhưng tội lỗi quả là sinh ra chỗ giàu sang vì sức mạnh của đồng tiền rất đáng kinh ngạc. Cho dù chưa phải là Tiên, Phật hay chân lý, nhưng đồng tiền cũng, làm hắc nhân tâm, xét từ cổ chí kim thì: Người ngồi trên đống cát ai cũng có thể là quân tử hiền nhân, nhưng ngồi trên đống vàng thật khó thay, đã có ai là hiền nhân quân tử đâu?

6

Tội lỗi lớn nhất của con người là lừa dối cả thiên hạ lẫn bản thân mình. Dối trá với cuộc đời thì chẳng hay ho gì, bởi gieo hạt nào thì gặt quả nấy. Sách Minh tâm dạy rằng: Độ lượng to lớn bao nhiêu thì phúc trạch càng to lớn bấy nhiêu, Mưu sâu độc bao nhiêu thì tai vạ cũng sâu độc bấy nhiêu. Nhưng khi đã tự lừa dối cả bản thân mình, thì quá tội lỗi. Nhẹ nhất là tự huyễn hoặc khả năng, bản chất của cá nhân để yên lòng tồn tại. Nặng hơn tự cho mình là thiên tài, luôn cao giọng răn dạy cuộc đời. Nghiêm trọng nhất là tự cho mình cái quyền quyết định, hay phán xử tất cả mọi sự việc, mức độ này thường dẫn đến hành động oai hùng thái quá gây tổn hại đến tinh thần và tính mạng người khác. Thường thì người ta hay tự an ủi bằng những lý do không đúng sự thật về những điều xấu mình đã gây ra, cốt để yên tâm tạm thời còn phần lớn thời gian luôn cảm thấy bất an, nơm nớp. Nên Kinh thư mới nhắc: Làm điều thành thật thì bụng yên ổn và mỗi ngày một hay. Làm điều gian dối thì bụng băn khoăn và mỗi ngày một dở. Không tự lừa dối mình và mọi người cũng có nghĩa là phải chứng minh sự thật bằng mọi giá. Chuyện cổ kể rằng, có người thợ đào được hòn đá bên trong có ngọc đem dâng vua, vua không tin, kết tội nói dối nên chặt chân trái. Vua sau lên ngôi, người này cũng đem ngọc đến dâng và vua cũng bảo gian dối, chặt nết chân phải. Đời vua sau nữa lên ngôi, người thợ đến chân núi khóc suốt 3 ngày đêm đến chảy cả máu mắt. Vua đến hỏi thì người thợ nói, khóc vì ngọc mà nhầm là đá – thật mà cho là dối! Vua bèn sai đập hòn đá ra, thì quả có hòn ngọc bên trong.

7

Cuộc đời nhiều nỗi thương cảm xót xa nhưng có lẽ con người đáng thương nhất là tự ti. Đây là cách suy nghĩ, biểu hiện, hành động không đúng với bản chất và khả năng của mình. Biểu hiện tích cực của tự ti là thu nhỏ lại không va chạm, không bon chen, ngại đưa ý kiến, sợ phản đối trong mọi hoàn cảnh. Biểu hiện tiêu cực thì tệ hơn là luôn khúm núm, xun xoe, bợ đỡ, xu nịnh, tâng bốc ai đó để lấy chỗ dựa bởi mặc cảm: phải có bờ rào thì dây leo mới có chỗ dựa! Chuyện xưa kể. Có một tay nhà giàu nứt đố đổ vách được nhiều người trong làng tâng bốc, nịnh hót nhưng anh nông dân nghèo rớt mồng tơi bên cạnh nhà lại dửng dưng, không cần biết. Tay nhà giàu gặng hỏi, anh nông dân trả lời: ông giàu kệ ông, tôi nghèo kệ tôi cớ gì phải xu nịnh? Tay nhà giàu hào phóng: Nếu tôi cho anh 1/2 tài sản thì anh có nịnh tôi không? Anh nông dân vẫn đáp: Nếu thế hai bên ngang hàng nhau, cần gì nịnh ai? Tay nhà giàu tức khí: Nếu cho anh tất cả tài sản thì anh có nịnh tôi không? Anh nông dân thản nhiên: Lúc ấy ông phải xu nịnh tôi mới đúng! Thực tế bây giờ cũng chứng minh rằng: tiền bạc và địa vị tác động ghê gớm đến suy nghĩ tự ti, nếu ai không đủ cứng rắn để giải thoát khỏi nỗi ám ảnh này thật vô cùng đáng thương. Đường đời vốn không bao giờ bằng phẳng, chuyện vấp ngã hoặc trượt chân rất bình thường. Triết lý cho rằng: mỗi lần ngã là một lần bớt dại. Điển tích thơ, ca ngợi tài ứng khẩu của bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương khi ngã cơ học vần giải thích kiểu triết học: Giơ tay với thử trời cao thấp – Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài? Trong cuộc sống không đơn giản như thế có những cú ngã vô hình tác động và ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần và làm suy sụp ý chí quyết tâm gượng dậy. Có thể nói từ vị trí ngã cho đến lúc đứng dậy được phải trải qua động tác trung gian là quỳ gối – khom lưng đây cũng chính là thời điểm quan trọng nhất nếu không đủ bản lĩnh để vươn lên thì không những chẳng đáng khâm phục mà còn vĩnh viễn tình nguyện gia nhập đội ngũ những kẻ không tiên hóa được chỉ đi bằng đầu gối. Bởi thế, Chu Hy mới dặn rằng: Đời suy, đạo vi, lòng ham muốn loài người đầy rẫy, không phải người cương nghị thì đứng vững sao được?

8

Có một câu châm ngôn sống dạy rằng: Mất xiềng xích thì được tự do, mất tiền sẽ được kinh nghiệm, mất sức thì được sung sướng nhưng đừng bao giờ mất hy vọng, mất hy vọng là mất tất cả! Đây đúng là chân lý thực dụng kiểu phương Tây nhưng có một ý chính trùng với người phương Đông. Sự mất mát lớn nhất của con người là tuyệt vọng.

Không được tuyệt vọng tức là phải luôn luôn có hy vọng để sống và sống vì hy vọng. Khi ta có hy vọng vào mốt con người, sự việc, hoàn cảnh nào đó cũng đồng nghĩa với việc ta đặt trọn mềm tin vào đấy để có động lực sống, do đó sự phấn đấu vươn lên sẽ mạnh mẽ và đạt hiệu quả thiết thực. Tình cảm bị tuyệt vọng sẽ tạo nên trạng thái tâm lý dở khùng, hoang mang, không biết sắp xếp mọi mặt của cuộc sống ra sao. Nếu sự nghiệp bị tuyệt vọng sẽ gây ra sự phẫn uất, chây ì với bản thân, còn nếu tuyệt vọng với cả hai điều này thì dẫn đến kết cục bi thảm: một kẻ trắng tay thường tự kết thúc cuộc sống của mình rất nhanh. Vậy muốn giữ được hy vọng, không sa vào tuyệt vọng thì mỗi con người phải có ý chí, nghị lực như Vương Dương Minh nhận định: Người không có ý chí như thuyền không lái, như ngựa không cương, trối giạt lông bông, không ra thế nào cả.

9

Các cụ xưa cũng nhấn mạnh rằng: Tài sản lớn nhất của con người là sức khỏe. Người bình thường không ai nghĩ đến sức khỏe của mình, chỉ khi nào bị tác động của bệnh tật hoặc tuổi già mới giật mình nghĩ lại, chủ yếu là cảm giác nuối tiếc. Bão Phác Tử nói: Ai cũng muốn sống lâu mà không biết cách dưỡng sinh. Ai cũng biết ăn uống quá độ thì ốm đau mà không biết giữ miệng. Ai cũng biết tình dục quá độ thì khô héo mà không biết phòng thân? Mạnh Tử thì cho rằng: Dường sinh không gì hay bằng ít lòng ham muốn, say mê. Tư Mã Thiên cũng nhận xét: Tinh thần dùng quá thời kiệt, hình thể làm quá thời mệt. Đúng là khi đã ốm đau bệnh tật rồi thì có tặng, biếu ham muốn cũng không còn cảm hứng đón nhận nữa. Tuân Sinh Tiên lại có ý sâu xa: Muốn cho thân không có bệnh, trước hết phải để tâm không có bệnh. Nên ít sắc dục để nuôi tinh, ít ngôn ngữ để nuôi khí, ít tư lự đế nuôi thần. Còn danh y Tuệ Tĩnh luôn nhắn nhủ: Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần, Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình (ý là: giữ tinh, dưỡng khí, bảo tồn thần, giữ cho lòng thanh thản, hạn chế dục vọng, giữ chân khí, luyện tập thân thể).

10

Trong cuộc sống còn nhiều mối liên quan, tác động đến nhau về cả vật chất và tinh thần, những món nợ tiền còn có thể trả được nhưng nợ tình thì khó khăn hơn nhiều, cho nên món nợ lớn nhất cuộc đời con người là tình cảm. Kinh Lễ đặt câu hỏi: Thế nào là tình cảm con người? Mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét muốn. Bảy loại tình cảm đó chẳng cần học ai cũng biết. Thế nhưng, bảy sắc tình đó chẳng phải mang đến đã cho con người ta mọi điều tốt đẹp, như sách Khuyết giới toàn thư nhận định: Bể tình dục lấp mãi không đầy thành sầu khổ phá mãi không tan, vì vậy món nợ tình cảm ở đây cần hiểu là món nợ của thương yêu, quý mến, gia ân. Nếu có điều kiện, thời gian, hoàn cảnh cũng có thể trang trải tượng trưng để lưu lại chữ tình, nhưng cũng có nhiều tình thế khó xử không thể cân, đong, đo đếm được, đành để kiếp sau. Một tích cổ kể câu chuyện vua muốn thử tài trí tân Trạng Nguyên nên đưa ra tình huống khó xử: Trên một con thuyền bị đắm có ba người là đức vua, thày dạy và cha đẻ đều gặp nguy hiểm đến tính mạng, vậy sẽ cứu ai trước? Nếu chủ định cứu một trong ba người thì Trạng Nguyên sẽ mắc một trong ba tội lớn: bất trung, bất hiếu hoặc bất nghĩa. Nhưng Trạng trả lời nhanh và dứt khoát là, cứ nhảy xuống sông, quờ được ai trước thì cứu trước. Tuy cách ứng phó ngẫu nhiên rất thông minh nhưng giả thiết có chuyện này thật thì món nợ dưới sông với hai người còn lại biết bao giờ trả xong? Chắc cũng khó khăn, trắc ẩn như chuyện của Trương Chi và Mỹ Châu: Nợ tình chưa trả cho ai? Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan!

11

Thế giới có thể đại đồng về mặt lý thuyết, nhưng thực tế trên đời người không tránh khỏi va chạm, xích mích gây ân oán to nhỏ trên dưới, xa gần nhằng nhịt như dây leo không thể giũ bỏ triệt để được, vì thế tha thứ là báu vật của mọi quan hệ và lòng khoan dung là quà tặng đáng giá nhất trên đời. Đức Thích Ca dạy: Oán trả oán, oán ấy chồng chất, lấy ân trả oán, oán ấy tiêu tan Sách Luận ngữ cũng viết: Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân. Phương pháp luận của Lão Tử cụ thể hơn: Với kẻ lành, lấy lành mà ở, với kẻ chẳng lành, vẫn lấy lành mà ở. Với kẻ thành tín, lấy thành tín mà đãi, với kẻ không thành tín vẫn lấy thành tín mà đãi. Nghĩ kỹ thêm mới thấy, hai chữ khoan dung thốt ra nhẹ nhàng biết bao nhiêu mà thực hành lại nặng nề bấy nhiêu, bởi nếu lòng dạ hẹp hòi không chứa nổi hai chữ ấy. Cách tốt nhất là chủ động: không nên lấy cái hay của mình mà trách cái không hay của người. Không nên lấy cái sở trường của mình mà trách cái sở đoản của người. Khi trách người, thì đừng nên khoe mình. Tuy vậy, sách Minh Tâm Bảo Giám viết: ở đời chẳng việc gì khó Không xong việc là do lòng mình không chú trọng. Thà kết ơn làm nghĩa với nhiều người, chớ nên gây oán với một người. Nên nhịn những việc khó nhịn, tha thứ những người không sáng suốt. Lòng khoan dung không những cởi mọi ân oán tạo nên cách sống cao thượng, mà còn chính là nguồn phúc để lại cho đời sau vì: Chứa vàng để lại cho con cháu chưa chắc đã giữ được, chứa sách để lại cho con cháu chưa chắc đã học được, cách để lại lâu dài cho con cháu không gì bằng chứa âm đức ở trong chỗ minh minh!

Theo Tạp chí Hà Nội Ngàn năm số 33, 34, 35

NO-TITLE: Feeling a bit…

Tháng Chín 20, 2006

Suddenly feeling the endless sadness, then like a shooting star, quickly passing through the eyes, tearing the private sky.

You, the fist yellow leave of the Autumn, forever hiding and appearing up and down among the green, immense, remote an innermost feelings…

VÔ ĐỀ

Bỗng nhiên thấy buồn vạn dặm, rồi như một ánh sao băng, vụt nhanh trong mắt, xé dài một khoảng trời riêng.

Em, chiếc lá vàng đầu tiên của mùa Thu, cứ mãi ẩn hiện thác gềnh giữa vô cùng xanh biếc. Rằng rặc, xa xa một nỗi niềm.

Lênh đênh cõi Thiền, nghiêng say cõi Phật. Giật mình bởi tiếng lá rơi. Hướng về phố nhỏ, ngõ về một thoáng đơn côi.

Bồi hồi nhớ một câu thơ cũ, những cốm thơm, hoa sữa. Trăng và rượu, gió và mây, sáo diều vi vu gọi nắng. Thương ơi! hương lúa giữa đồng.

Chiều như chậm dần, lá như vàng thêm. Bồng bềnh trong khói vân sương, những cánh chim trời mờ mờ trôi về xứ lạ. Đất và Trời, Đạo và Đời như giao hòa.

Thấy thèm được nói và gửi cho nhau một câu tiếng Việt. Thèm được sẻ chia, được nhận và trao cùng bốn mùa mưa nắng, cay và đắng, ngọt và bùi, hạnh phúc và khổ đau.

Ôi lung linh ánh nguyệt, thân thương địa cầu, mênh mông vũ trụ!

Giang Hương, 20-Sep-2006

Tam Giao – Bat Nhi Hoa Dong

Tháng Chín 5, 2006

This is a good brief review and discussion about Three Religions (Buddhism, Confucianism and Faoism), which are strongly embeded in the culturral life of people in China and Vietnam. Agree or do not agree about the ego of yourself, our activities, thinkings or life styles are less or more influenced by Three Rereligions! (Le Chi Hieu).

Nếu có một tôn giáo nào có thể đáp ứng với những nhu cầu của khoa học đương thời thì đó chính là Phật Giáo – Albert Einstein.

If there is any religion that would cope with modern scientific needs it would be Buddhism – Albert Einstain.

(Lời bàn: Ở cuối bài viết, tác giả có kết luận: Tam giáo thật sự không đem lại một nếp sống tâm linh lành mạnh cho các dân tộc Á Đông chúng ta. Cái ý chủ quan này không hợp tình hợp lý lắm, phân tích khoa học mà cũng không khoa học, có tình mà cũng không tình, có lý mà cũng không phải lý. Tuy nhiên cũng có thể cảm thông hơn một chút ở đây vì tác giả là người theo Tin Lành, cổ động cho Đạo Tin Lành. Vì vần tóm lược về Tam Giáo khá gọn và dễ hiểu, nên tôi đăng lại bài này ở đây để tham khảo mà thôi. Tri thức là vô cùng vô tận, thông tin thì bốn bề như suối chảy, cái sự đọc và sự hiểu của mỗi người có khác, vì lí do này mà người đọc cũng cần phải sàng lọc thông tin một cách ích lợi cho bản thân mìnhLê Chí Hiếu)

Tam Giáo: Hòa nhi bất đồng
Tác Giả: Lê Anh Huy & Huỳnh Chrítian Timothy

Dẫn nhập

Thánh Kinh dạy rằng: Nếu hai người không đồng ý với nhau, thì há cùng đi chung được sao?” (A-mốt 3:3). Như vậy, muốn đồng hành thì hai người cần phải đồng thuận. Không thể đồng hành nếu không có sự đồng thuận. Sự đồng thuận là mẫu số chung. Khi có chung mẫu số thì có thể bù trừ cho nhau để cùng tồn tại.

Tam Giáo: Phật, Khổng, Lão là nền móng văn hoá đặc thù (tức là nếp suy nghĩ, và lối sống riêng biệt) của người Trung Hoa và người Việt Nam. Theo lẽ tự nhiên, khi “đồng hành” với nhau suốt nhiều ngàn năm như vậy Tam Giáo phải có sự thống nhất về triết lý và thực hành, để cho các kiến trúc thượng tầng được đứng vững. Tuy nhiên, trong thực tế, Tam Giáo đầy dẫy những sự mâu thuẫn. Giáo lý của giáo này phủ nhận hoặc đối chọi với giáo lý của giáo kia. Vậy thì, đâu là mẫu số chung đã giúp cho Tam giáo đồng hành và tồn tại suốt chiều dài lịch sử cho đến ngày hôm nay? Trong bài này, chúng tôi bàn về cái lẽ “hòa nhi bất đồng” của Tam Giáo.

I. Triết lý và tín ngưỡng của Tam Giáo

Trước hết chúng ta hãy xét về triết lý của mỗi giáo:

1. Lão Giáo:

Lão Giáo không tôn thờ một thần linh nào cả, cũng không tôn thờ ông bà, tổ tiên. Lão Giáo quan niệm vạn vật phát nguyên từ một thực thể mà không ai biết được thực thể ấy là gì, Lão Tử tạm gọi đó là “Đạo”:

“Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sanh…
Ngô bất tri kỳ danh, tự viết Đạo.”
“Có vật hỗn độn mà thành, sinh ra trước cả trời đất…
Ta không biết tên là gì, tạm gọi là Đạo.”
[1]

Lão Giáo cho rằng vạn vật do “Đạo” sinh ra và “Đức” nuôi dưỡng, bảo tồn:

Đạo sinh chi, Đức xúc chi, trưởng chi, dục chi, đình chi, độc chi, dưỡng chi, phúc chi.”
“Đạo sinh ra nó, Đức chứa đựng nó, làm cho nó lớn, làm cho nó sống, làm cho nó hiện ra hình, làm cho nó thành ra chất, nuôi nấng nó, và che chở nó.”
[2]

“Nó” trong câu văn là bất kỳ một thực thể nào trong vũ trụ. Lão Tử không luận về nguồn gốc hay ý nghĩa của Đức. Xem ra, trong Đạo có Đức. Đạo là nguồn gốc bản thể (vật chất) của vật, Đức là nguồn
gốc năng lượng
khiến cho vật năng động. Cả Đạo lẫn Đức đều không phải là một Thần Linh Cao Siêu Tuyệt Đối, hay một thực thể có thân vị. Dù vạn vật ra từ Đạo, nhưng Đạo không phải là Đấng Tạo Hóa. Dù vạn vật năng động nhờ Đức, nhưng Đức không phải là Đấng Quan Phòng.

Lão Tử đề xướng thuyết Vô Vi, nghĩa là không theo ý riêng tư mà làm gì cả, sống thản nhiên theo định luật tự nhiên sinh và động của Đạo và Đức.

2. Khổng Giáo:

Khổng giáo thật ra là một học thuyết về chính trị và an sinh xã hội. Khổng Giáo dạy về việc “bình thiên hạ”, nghĩa là cách thức làm chính trị sao cho xã hội có tôn ti trật tự, người người no ấm, nhà nhà hiếu nghĩa. Muốn thế, theo Khổng Tử, phàm mọi sự đều phải “Chính Danh”, nghĩa là tên gọi như thế nào thì phải hành xử đúng như thế ấy. Thí dụ: vua thì phải hành xử như bậc vua, tôi thì phải hành xử như bậc tôi… Vấn đề là: lấy gì làm cái tiêu chuẩn để mà hành xử cho đúng với danh xưng? Và, Khổng Tử đặt ra một loạt “Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức…” để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.

Tam Cương và Ngũ Thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo. Tam Tòng và Tứ Đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức thì xã hội được an bình.

2.1 Tam Cương: Tam là ba;Cương là giềng mối; Tam Cương là ba mối quan hệ: Quân thần (vua tôi), Phụ tử (cha con), Phu thê (chồng vợ). Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt công minh, tôi trung thành một dạ. Trong quan hệ cha con, cha nuôi dạy con cái, con cái hiếu kính vâng phục cha và khi cha già thì phải phụng dưỡng. Trong quan hệ chống vợ, chồng yêu thương và công bình với vợ, vợ vâng phục và chung thủy giữ tiết với chồng.

2.2 Ngũ Thường: Ngũ là năm; Thường là hằng có; Ngũ Thường là năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật. Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải. Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người. Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai. Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy.

2.3 Tam Tòng: Tam là ba; Tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” nghĩa là, người phụ nữ “khi còn ở nhà phải theo cha, lúc lấy chồng phải theo chồng, nếu chồng qua đời phải theo con”

2.4 Tứ Đức: Tứ là bốn; Đức là tính tốt. Tứ Đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: Công – Dung – Ngôn – Hạnh. Công: khéo léo trong việc làm. Dung: hòa nhã trong sắc diện. Ngôn: mềm mại trong lời nói. Hạnh: nhu mì trong tính nết.

Về phương diện tín ngưỡng, Khổng Giáo thờ Trời và thờ quỉ. Theo Trần Trọng Kim:

Xem thế thì biết rằng người đời xưa lấy việc tế tự làm quan trọng lắm, mà trong sự tế tự của người Tàu có cái đặc sắc là việc thờ cúng tổ tiên. Sách Lễ Ký nói rằng: “Vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ: Muôn vật gốc ở Trời, người gốc ở tổ.” Ngoài việc thờ Trời ra thì việc thờ tổ tiên là trọng hơn cả. Trời thì chỉ có Thiên Tử mới được tế mà thôi, còn tổ tiên thì từ vua quan cho chí nhân dân, ai cũng phải thờ. Sự thờ cúng ấy do sự tin rằng lúc người ta chết rồi thể phách tan nát đi, nhưng tinh anh hãy còn, thành ra quỉ. Quỉ cũng thiêng-liêng như thần, có thể can thiệp đến việc người và phù hộ con cháu.” [3]

3. Phật Giáo:

Còn đạo Phật thờ gì và thờ ai? Đạo Phật chính tông không thờ cái gì và ai cả, ngay cả Phật tổ. Thích Ca đã dạy đệ tử về chính mình như sau:

Này Ananda, không phải như vậy là tôn trọng, kính cẩn, sung bái, làm vẻ vang Như lai đâu. Bất luận vị tỳ khưu nào, bất luận vị tỳ khưu ni hay thiện nam, tín nữ nào hành đúng theo Giáo Huấn, phẩm hạnh trang nghiêm, đời sống chân chính, là người tôn trọng, kính cẩn, sung bái và làm vẻ vang Như lai theo cách cao thượng nhất. Như vậy, này Ananda, con phải chuyên cần tu tập, hành động đúng theo Giáo Huấn, phẩm hạnh trang nghiêm, sống đời chân chính [4].”

Theo Phật giáo chúng sinh (mọi thực thể trong ba cõi trời, người, quỷ) là một tập hợp của ngũ uẩn [5], khi chúng sinh chết đi, thì ngũ uẩn đó sẽ không còn hiện hữu. Nếu nghiệp lực còn, thì sẽ có một ngũ uẩn khác đầu thai trong một kiếp khác. Trong Phật giáo linh hồn không hiện hữu. Như vậy khi ông bà chúng ta chết, thì ngũ uẩn mà chúng ta gọi là “ông bà” không còn nữa. Nếu nghiệp lực của họ còn thì nghiệp họ làm trong kiếp trước sẽ sinh ra kiếp sau, tức là một ngũ uẫn mới dính dáng gì đến ngũ uẩn cũ chỉ qua nghiệp lực của vô lượng tiền kiếp. Nếu tin rằng ông bà sau khi qua đời đi đầu thai vào kiếp khác thì tại sao cứ mỗi ngày kỵ giỗ, hay tết nhứt lại thắp hương lầm thầm mời ông b
về ăn cơm với con cháu?

II. Những dị biệt và mâu thuẫn của Tam Giáo:

1. Lão Giáo bài bác Khổng Giáo:

Lão Tử cực lực lên án triết lý của Khổng Giáo. Luận về Đạo Ngũ Thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) của Khổng Giáo, Lão Tử nói:

“Thất Đạo nhi hậu Đức, thất Đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ, phù lễ giả trung tín chi bạc nhi loạn chi thủ”
“Mất Đạo mới tới Đức, mất Đức mới tới nhân, mất nhân mới tới nghĩa, mất nghĩa mới tới lễ. Ôi, lễ ấy là sự mỏng manh của lòng trung tín mà mở đầu của loạn lạc.” [6]

Quan niệm về Đạo và Đức của Lão Giáo hoàn toàn đối nghịch với Khổng Giáo. Trong khi Khổng Giáo đề cao thuyết “Chính Danh”, lập ra tiêu chuẩn “Tam Cương”, “Ngũ Thường”, “Tam Tòng”, “Tứ Đức”, xem đó là tột đỉnh của sự tu thân để đạt tới mức tột cùng của Đức mà “bình thiên hạ” (“Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”) [7] thì Lão Giáo cho rằng:

“Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường Danh.”
“Đạo mà có thể gọi là Đạo, không phải là Đạo thật.
Danh mà có thể gọi là Danh, không phải là Danh thật.
[8]

Lão Giáo chủ trương sống tự nhiên theo “đạo” (định luật) của trời đất. Khổng Giáo khuôn tập con người vào những bổn phận, trách nhiệm. Đạo của Lão Giáo là luật tự nhiên, Đức của Lão Giáo là khả năng sinh tồn theo luật tự nhiên. Đạo của Khổng Giáo là sự áp đặt một trật tự đẳng cấp, Đức của Khổng Giáo là sự rèn luyện ý chí thi hành cái trật tự ấy.

2. Khổng Giáo mâu thuẫn với Phật Giáo:

Trong khi Khổng Giáo kêu gọi kiến tạo một xã hội có tôn ti trật tự theo Thuyết Chính Danh thì Phật Giáo phủ nhận tất cả các “Danh”. Khổng Giáo nổ lực xây dựng “ngã”, hướng dẫn mọi dục vọng của con người đi vào khuôn khổ của một thứ đạo đức phân biệt đẳng cấp thì Phật Giáo kêu gọi diệt trừ dục vọng và phủ nhận bản ngã của mọi thực thể.

3. Phật Giáo khác với Lão Giáo:

Phật Giáo chủ trương chúng sinh đau khổ vì tham dục nên luân hồi triền miên trong vòng sinh tử cần “tu tập” để đi đến chỗ giải thoát khỏi sự luân hồi mà vào cõi Niết Bàn. Niết Bàn là chỗ/trạng thái đời đời không có đau khổ mà chỉ có an lạc và hiểu biết trọn vẹn. Sự tu tập trong Phật Giáo là làm điều thiện cho mọi chúng sinh, hướng vào nội tâm để dập tắt mọi tham dục mà nhìn thấy bản chất chân thật của mình. Trong khi đó, Lão Giáo chủ trương đói ăn, khát uống… con người và vạn vật cứ theo lẽ tự nhiên mà biến hóa, chẳng cần tu tập, chẳng cần quán chiếu (chiêm nghiệm nội tâm để tìm chân lý) gì cả.

Kết luận:

Ba tôn giáo, Phật Giáo, Khổng Giáo và Lão Giáo về cơ bản mâu thuẫn lẫn nhau. Sự hòa nhập của ba giáo này suốt mấy ngàn năm nay, chẳng qua chỉ là một hình thức gạn lọc những gì thích ứng với lòng người, tạo ra một thứ tôn giáo mới gọi là “Tam Giáo”. Xương cốt của Tam Giáo là Nho Giáo, với vai trò luật pháp và lương tâm nhằm duy trì trật tự xã hội. Lão Giáo phủ lên Tam Giáo chiếc áo choàng thần bí biến dạng thành các thứ mê tín dị đoan, bùa phép để đáp ứng những nhu cầu tâm linh lẫn vật chất. Phật Giáo như vầng hào quang chiếu ngời trên Tam Giáo, thể hiện qua những việc làm lành tích đức kèm theo ảo vọng về một “kiếp sau” tốt đẹp hơn. Với những mâu thuẫn nội tại dẫn đến những chấp nối, vá víu, biến dạng như vậy, Tam giáo thật sự không đem lại một nếp sống tâm linh lành mạnh cho các dân tộc Á Đông chúng ta.

Lê Anh Huy
Huỳnh Christian Timothy

07/31/2006

Trích dẫn, chú thích, và tham khảo:

1- Lão Tử, Đạo Đức Kinh, chương 51

2- Lão Tử, Đạo Đức Kinh, chương 25

3- Trần Trọng Kim, Nho giáo, Tập I, 4th, Tủ Sách Tân Việt, tr. 41

4- Hòa thượng Narada, Phạm Kim Khánh dịch, “Đức Phật Nhập Đại Niết Bàn,” trong Đức Phật và Phật Pháp, www.saigon.com/~anson/uni/u-dp&pp/dp&pp14.htm

5- Lê Anh Huy, “Vô Ngã,” http://thanhkinhthanhoc.net/tkth/?q=node/30

6- Lão Tử, Đạo Đức Kinh, chương 38

7- Chính Danh = Tên gọi thế nào phải hành xử đúng theo thế ấy;

8- Lão Tử, Đạo Đức Kinh, chương

Translation of the Tao Te Ching – Dao Duc Kinh – Lao Tu

Tháng Chín 3, 2006

Stop thinking, and end your problems“- Lao Tzu

Even the finest teaching is not the Tao itself. Even the finest name is insufficient to define it. Without words, the Tao can be experienced, and without a name, it can be known. To conduct one’s life according to the Tao, is to conduct one’s life without regrets; to realize that potential within oneself which is of benefit to all. Though words or names are not requiredto live one’s life this way, to describe it, words and names are used, that we might better clarify the way of which we speak, without confusing it with other ways in which an individual might choose to live….

Đạo Đức Kinh – Lão Tử

Theo Bản dịch tiếng Anh của: Stan Rosenthal

Có một vật hỗn độn mà thành trước cả trời đất. Nó yên lặng, vô hình, đứng một mình mà không thay đổi vĩnh cửu, vân hành khắp vũ trụ không ngừng, có thể coi nó nó là mẹ của vạn vật trong thiên hạ. Ta không biết tên nó là gì, tạm đặt tên cho nó là đạo.

Đạo trời không tranh mà khéo thắng, không nói mà khéo đáp, không gọi mà vạn vật tự tới, bình thản vô tâm mà khéo mưu tính mọi việc. Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt.

Lời nói chân thật thì không hoa mỹ, lời nói hoa mĩ thì không chân thật. Người thiện thì không cần phải biện giải [vì hành vi tốt rồi], người nào phải biện giải cho mình là người “không thiện”. Người biết thì không nói, người nói là người không biết.

Người ta sinh ra thì mềm yếu mà khi chết thì cứng đơ. Thảo mộc sinh ra thì mềm dịu mà khi chết đi thì lại khô cứng.
Cho nên cứng mạnh là cùng loài với chết, mềm yếu là cùng loài với sống. Vì vậy binh mạnh thì không thắng, cây cứng thì bị chặt. Cứng mạnh thì phải ở dưới, mềm yếu lại được ở trên.

Mạnh mẽ về dám làm [tức quả cảm, cương cường] thì chết, mạnh mẽ về không dám làm [tức thận trọng, nhu nhược] thì sống. Hai cái đó cùng là mạnh mẽ, mà một cái thì được lợi, một cái lại bị hại; ai mà biết được tại sao trời lại ghét cái đó [quả cảm, cương cường]?

Người nào hứa một cách dễ dàng quá thì khó tin được, người nào cho việc gì cũng dễ làm thì sẽ gặp nhiều cái khó. Cho nên người hiểu đạo coi việc gì cũng khó mà rốt cuộc không gặp cái gì khó.Cái có từ cái không mà ra. Không có nghĩa là không có gì cả nhưng phải có cái gì thì mới có cái không có.

Cái gì an định thì dễ nắm, giòn thì dễ vỡ, nhỏ thì dễ phân tán. Ngăn ngừa sự tình từ khi chưa manh nha, trị loạn từ khi chưa thành hình.

Cây lớn một ôm, khởi sinh từ một cái mầm nhỏ; đài cao chín tầng khởi đầu từ một sọt đất, đi xa ngàn dặm bắt đầu từ một bước chân. Người ta làm việc , thường gần tới lúc thành công thì lại thất bại, vì không cẩn thận như lúc ban đầu, dè sau như trước thì không hỏng việc.

Người hiểu đạo trị thiên hạ theo chính sách vô vi, giữ thái độ điềm đạm. Xem cái nhỏ cũng như cái lớn, cái ít như nhiều, lấy đức báo oán. Giải quyết việc khó từ khi còn dễ, thực hành việc lớn từ khi còn nhỏ [vì việc khó trong thiên hạ khởi từ chỗ dễ, việc lớn khởi từ nhỏ]. Cho nên thánh nhân trước sau không làm việc gì lớn mà thực hiện được việc lớn.

Đạo lớn bị bỏ rồi mới có nhân nghĩa, mưu trí xuất hiện rồi mới có trá ngụy, gia đình bất hòa rồi mới sinh ra hiếu từ, nước nhà rối loạn rồi mới có tôi trung.

Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm; thánh nhân bất nhân, coi trăm họ như chó rơm [Luật thiên nhiên không có tình thương của con người, cứ thản nhiên, vô tâm với vạn vật, mùa xuân tươi tốt, mùa đông điêu tàn…]. Khoảng giữa trời đất như cái ống hơi; hư không mà không kiệt, càng chuyển động hơi lại càng ra. Càng nói nhiều lại càng khốn cùng, không bằng giữ sự hư tĩnh.

Muốn cho vật gì thu rút lại thì tất hãy mở rộng nó ra đã. Muốn cho ai yếu đi thì tất hãy làm cho họ mạnh lên đã. Muốn phế bỏ ai thì tất hãy đề cử họ lên đã. Muốn cướp lấy vật gì thì tất hãy cho đã. Hiểu như vậy là sâu kín mà sáng suốt. Vì nhu nhược thắng được cương cường.

Ngũ sắc làm cho người ta mờ mắt; ngũ âm làm cho người ta ù tai; ngũ vị làm cho người ta tê lưỡi, ruỗi ngựa săn bắn làm cho lòng người ta mê muội, vàng bạc làm cho hành vi người ta đồi bại. Cho nên bậc đắc đạo cầu no bụng mà ko cầu vui mắt, bỏ cái xa xỉ, đa dục mà chọn cái chất phác, vô dục. Bậc đắc đạo bận áo vải thô mà ôm ngọc quý trong lòng.

Trời đất trường cửu. Sở dĩ trời đất trường cửu được là vì không sống riêng cho mình, nên mới trường sinh được. Vì vậy thánh nhân [người đắc đạo] đặt thân mình ở sau mà thân lại được ở trước, đặt thân mình ra ngoài mà thân mới còn được. Như vậy chẳng phải vì thánh nhân không tự tư mà thành được việc riêng của mình ư ?

Người quân tử gặp thời thì mặc áo gấm mà ngồi xe ngựa, không gặp thời thì mặc áo vải thô mà đi chân đất.

Không trọng người hiền để dân không tranh, không quý của hiếm để dân không trộm cắp, không phô bày cái gì gợi ham muốn, để lòng dân không loạn. Chính trị của thánh nhân là làm cho dân lòng thì hư tĩnh, bụng thì no, không ham muốn, không tranh giành, xương cốt thì mạnh. Khiến cho dân không biết, không muốn mà bọn mưu trí thì không dám hành động. Theo chính sách vô vi thì mọi việc đều trị.

Không học thì không phải lo. Càng theo học thì mỗi ngày dục vọng, “hữu vi” càng tăng, theo đạo thì mỗi ngày dục vọng càng giảm, vô vi càng tăng.

Ta có ba vật báu mà ta ôm giữ cẩn thận, một là lòng nhân ái, hai là tính tiết kiệm, ba là không dám đứng trước thiên hạ. Vì nhân ái mà sinh ra dũng cảm, vì tiết kiệm mà sinh ra sung túc, rộng rãi, vì không dám đứng trước thiên hạ mà làm chủ được thiên hạ.

Nếu không nhân ái mà mong được dũng cảm, không tiết kiệm mà mong được rộng rãi, không chịu đứng sau mà tranh đứng trước người thì tất hỏng việc. Trời muốn cứu ai thì cho người đó lòng nhân ái để tự bảo
vệ, lấy lòng nhân ái mà giúp người đó.

Người sáng suốt nghe đạo thì gắng sức mà thi hành, người bình thường nghe đạo thì nửa tin nửa ngờ, người tăm tối nghe đạo thì cười rộ. Nếu không cười thì đạo đâu còn là đạo nữa ?

Nước là vật cực mềm mà lại thắng được vật cực cứng là đá [nước chảy đá mòn]. Nước là vật cực kì mềm mại, nó luôn tìm chỗ thấp mà tới [khiêm nhường], ngày đêm chảy không ngừng, bốc lên thì thành mưa, chảy xuống thì thành sông rạch, thấm vào lòng đất để nuôi vạn vật. Tự nó không ngừng biến đổi, lại sinh ra mọi loài. Nó không tranh với ai, lựa chỗ thấp mà tới, gặp cái gì cản thì nó uốn khúc mà tránh đi, cho nên đâu nó cũng tới được.

Vật gì bén nhọn thì dễ gẫy. Ráng giữ cho chậu đầy hoài, chẳng bằng thôi đi; con dao cố mài cho bén nhọn thì lại không bén lâu. Vàng ngọc đầy nhà, làm sao mà giữ nổi ? Giàu sang mà kiêu căng là tự rước họa vào thân.

Ba mươi nan hoa cùng qui vào 1 cái bánh, nhưng chính nhờ khoảng trống không trong cái bánh mà xe mới dùng được. Nhồi đất sét để làm chén bát, nhưng chính nhờ cái khoảng trống không ở trong mà chén bát mới dùng được. Đục cửa, cửa sổ để làm nhà, chính nhờ cái trống không đó mà nhà mới dùng được. Vậy ta tưởng cái “có” [bánh, chén bát, nhà] có lợi cho ta mà thực ra cái “không” mới làm cho cái “có” hữu ích.

Người đời được vinh hay bị nhục thì lòng sinh ra rối loạn, sợ vạ lớn thì sinh ra rối loạn. Tại sao vinh, nhục thì lại sinh ra rối loạn ? Là vì vinh thì được tôn, nhục thì bị hèn; được thì lòng rối loạn [mừng rỡ mà!]; mất thì lòng rối loạn [rầu rĩ mà!]; cho nên mới bảo là vinh, nhục sinh ra rối loạn. Vậy phải làm sao ? Chúng ta sỡ dĩ sợ vạ lớn là vì chúng ta có cái thân. Nếu chúng ta quên cái thân mình đi, thì còn sợ gì lòng sinh ra rối loạn nữa ?! Cho nên kẻ nào coi trọng sự hy sinh thân mình cho thiên hạ, thì có thể tin cậy vào kẻ đó được.

Ai có thể đang đục mà lắng xuống để từ từ trong ra ? Ai có thể đang hư tĩnh mà phát động để lần lần sinh động lên ? Người nào giữ được đạo ấy thì không tự mãn, không cố chấp, cũng không tự ái. Vì vậy nên mới có thể bỏ cái qua cái cũ mà chấp nhận cái mới được.

Kẻ đứng 1 chân thì không thể đứng được lâu, kẻ xoạc chân ra thì không thể đi được, kẻ tự biểu hiện mình thì không bao giờ chói lọi, kẻ tự kể công thì không có công, kẻ tự phụ thì chẳng khuyên bảo được ai, kẻ vẽ rắn thêm chân thì không trường cửu. Thái độ đó được ví như đồ ăn thừa, những ung nhọt ai ai cũng ghét.

Ai cũng cho cái đẹp là đẹp do đó mà phát sinh ra quan niệm cái xấu; ai cũng cho cái thiện là thiện do đó mà phát sinh ra quan niệm về cái ác. Tại sao con người thích cái đẹp mà lại không thích cái xấu ? Là vì “có” và “không” sinh ra lẫn nhau, “dễ” và “khó” tạo nên lẫn nhau, cao thấp dựa vào nhau mà tồn tại …

Kẻ biết người là người khôn, kẻ tự biết mình là người sáng suốt. Thắng được người là có sức mạnh, thắng được mình là kiên cường. Kẻ biết thế nào là đủ là người giàu; kẻ gắng sức là người có chí. Kẻ nào ko rời bỏ những điều trên thì sẽ được lâu dài, chết mà không mất là trường thọ.

Hồn nhiên, vô tư, vô dục như đứa trẻ mới sanh là có đức dày, ai cũng yêu quý, muốn đạt như vậy không phải là dễ. Đứa trẻ mới sinh độc trùng ko chích, mãnh thú không ăn thịt, ác điểu ko vồ. Xương yếu gân mềm mà tay nắm rất chặt, suốt ngày gào hét mà giọng ko khản, như vậy là khí cực hòa.

Dứt thánh hiền, bỏ mưu trí dân lợi gấp trăm; dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại hiếu từ; dứt trí xảo bỏ lợi, không có trộm giặc.

Ba cái đó (thánh trí, nhân nghĩa, xảo lợi) vì là cái văn vẻ bề ngoài không đủ để trị dân nên phải bỏ; khiến cho dân quy về điều này: ngoài thì mộc mạc, trong thì giữ sự giản phác, giảm tư tâm bớt dục vọng mới là tích cực.

Dạ (giọng kính trọng) khác với ơi (giọng xem thường) bao nhiêu ? Thiện với ác khác nhau như thế nào ? Cái mọi người sợ ta không thể không không sợ. Việc học rộng lớn thay, không sao hết được.

Mọi người hớn hở như hường bữa tiệc lớn, như mùa xuân lên đài; riêng ta điềm tĩnh, không lộ chút tình ý gì như đứa trẻ chưa biết cười, rũ rượi mà đi như không có nhà để về. Mọi người có thừa, riêng ta như thiếu thốn, lòng ta ngu muội, đần độn thay ! Mọi người đều có chỗ để dùng, riêng ta ngoan cố mà bỉ lậu. Riêng ta khác người mà quý mẹ của muôn loài (tức đạo)

Vạn vật tuần hoàn, âm cực dương sinh, lúc sinh lúc tử, trăng tròn trăng khuyết. Vạn vật biến đổi rồi trở lại cái bản thể của nó (trở về với đạo). Từ xưa đến nay, đạo tồn tại hoài, nó sáng tạo ra vạn vật. Chúng ta do đâu biết được bản chất vạn vật ? Đó là do đạo.

Thánh nhân ôm giữ lấy đạo làm phép tắc cho thiên hạ. Không tự biểu hiện cho nên mới sáng tỏ, không tự cho là phải nên mới chói lọi, không tự kể công nên mới là có công, không tự phụ cho nên mới hơn người. Chỉ vì không tranh với ai nên không ai tranh với mình được.

Người xưa bảo: “Cong (chịu khuất phục) thì sẽ được bảo toàn”, đâu phải hư ngôn! Nên chân thành giữ vẹn cái đạo mà về với nó. Trong trời đất có bốn cái lớn mà người là một. Người bắt chước trời, trời bắt chước đạo, đạo bắt chước tự nhiên.

Ít nói thì hợp với đạo. Cho nên gió lốc không thể thổi suốt buổi sáng, mưa rào không suốt ngày. Ai làm nên những cái ấy? Chính là do trời đất. Trời đất còn không thể lâu được, huống hồ là con người ?

Vì binh khí là vật bất tường (chẳng lành, gây họa), ai cũng ghét cho nên người giữ đạo không dùng binh khí. Bất đắc dĩ phải dùng đến nó, mà dùng đến thì điềm đạm là hơn cả. Thắng cũng không cho là hay, nếu cho là hay tức là thích giết người. Kẻ nào thích giết người thì không trị được thiên hạ.

Việc lành thì trọng bên trái, việc dữ thì trọng bên phải. Giết hại nhiều người thì nên lấy lòng bi ai mà khóc, chiến thắng thì nên lấy tang lễ mà xử. (Nguồn: VNN: Thuvien Ebook)

10 phần đầu tiên của bản dịch Tiêng Anh bởi Stan Rosenthal được trích dẫn ở dưới đây. Toàn bộ bản dịch gồm 81 phần được format dưới định dạng PDF có thể tải tại ĐÂY (CLICK HERE TO DOWNLOAD).
Translation of the Tao Te Ching
Stan Rosenthal
1. THE EMBODIMENT OF TAO

Even the finest teaching is not the Tao itself. Even the finest name is insufficient to define it.

Without words, the Tao can be experienced, and without a name, it can be known.

To conduct one’s life according to the Tao, is to conduct one’s life without regrets; to realize that potential within oneself which is of benefit to all.

Though words or names are not requiredto live one’s life this way, to describe it, words and names are used, that we might better clarify the way of which we speak, without confusing it with other ways in which an individual might choose to live.

Through knowledge, intellectual thought and words, the manifestations of the Tao are known, but without such intellectual intentwe might experience the Tao itself.

Both knowledge and experience are real, but reality has many forms, which seem to cause complexity.

By using the means appropriate, we extend ourselves beyondthe barriers of such complexity, and so experience the Tao.

2. LETTING GO OF COMPARISONS

We cannot know the Tao itself, nor see its qualities direct, but only see by differentiation, that which it manifests.

Thus, that which is seen as beautiful is beautiful compared with that which is seen as lacking beauty; an action considered skilled is so considered in comparisonwith another, which seems unskilled.

That which a person knows he hasis known to him by that which he does not have, and that which he considers difficult seems so because of that which he can do with ease. One thing seems long by comparison with that which is, comparatively, short. One thing is high because another thing is low; only when sound ceases is quietness known, and that which leads is seen to lead only by being followed.

In comparison, the sage, in harmony with the Tao, needs no comparisons, and when he makes them, knowsthat comparisons are judgements, and just as relative to he who makes them, and to the situation, as they are to that on which the judgement has been made.

Through his experience, the sage becomes aware that all things change, and that he who seems to lead, might also, in another situation, follow. So he does nothing; he neither leads nor follows. That which he does is neither big nor small; without intent, it is neither difficult, nor done with ease. His task completed, he then lets go of it; seeking no credit, he cannot be discredited. Thus, his teaching lasts for ever, and he is held in high esteem.

3. WITHOUT SEEKING ACCLAIM

By retaining his humility, the talented person who is also wise, reduces rivalry.

The person who possesses many things, but does not boast of his possessions, reduces temptation, and reduces stealing.

Those who are jealous of the skills or things possessed by others, most easily themselves become possessed by envy.

Satisfied with his possessions, the sage eliminates the need to steal; at one with the Tao, he remains free of envy, and has no need of titles.

By being supple, he retains his energy. He minimizes his desires, and does not train himself in guile, nor subtle words of praise. By not contriving, he retainsthe harmony of his inner world, and so remains at peace within himself.

It is for reasons such as these, that an administration which is concerned with the welfare of those it serves, does not encourage status and titles to be sought, nor encourage rivalry.

Ensuring a sufficiency for all, helps in reducing discontent.

Administrators who are wise do not seek honours for themselves, nor act with guile towards the ones they serve.

4. THE UNFATHOMABLE TAO

It is the nature of the Tao, that even though used continuously, it is replenished naturally, never being emptied, and never being over-filled, as is a goblet which spills its contents upon the ground.

The Tao therefore cannot be said to waste its charge, but constantly remains a source of nourishment for those who are not so full of self as to be unable to partake of it.

When tempered beyond its natural state, the finest blade will lose its edge. Even the hardest tempered sword, against water, is of no avail, and will shatter if struck against a rock. When untangled by a cutting edge, the cord in little pieces lies, and is of little use.

Just as the finest swordsmithtempers the finest blade with his experience, so the sage, with wisdom, tempers intellect. With patience, tangled cord may be undone, and problems which seem insoluble, resolved.

With wise administrators, all can exist in unity, each with the other, because no man need feel that he exists, only as the shadow of his brilliant brother.

Through conduct not contrived for gain, awareness of the Tao may be maintained. This is how its mysteries may be found.

5. WITHOUT INTENTION

Nature acts without intent, so cannot be describedas acting with benevolence, nor malevolence to any thing.

In this respect, the Tao is just the same, though in reality it should be saidthat nature follows the rule of Tao.

Therefore, even when he seems to act in manner kind or benevolent, the sage is not acting with such intent, for in conscious matters such as these, he is amoral and indifferent.

The sage retains tranquility, and is not by speech or thought disturbed, and even less by action which is contrived. His actions are spontaneous, as are his deeds towards his fellow men.

By this means he is empty of desire, and his energy is not drained from him.

6. COMPLETION

Like the sheltered, fertile valley, the meditative mind is still, yet retains its energy.

Since both energy and stillness, of themselves, do not have form, it is not through the senses that they may be found, nor understood by intellect alone, although, in nature, both abound.

In the meditative state, the mind ceases to differentiate between existences, and that which may or may not be. It leaves them well alone, for they exist, not differentiated, but as one, within the meditative mind.

7. SHEATHING THE LIGHT

When living by the Tao, awareness of self is not required, for in this way of life, the self exists, and is also non-existent, being conceived of, not as an existentiality, nor as non-existent.

The sage does not contrive to find his self, for he knows that all which may be found of it, is that which it manifests to sense and thought, which side by side with self itself, is nought.

It is by sheathing intellect’s bright light that the sage remains at one with his own self, ceasing to be aware of it, by placing it behind. Detached, he is unified with his external world, by being selfless he is fulfilled; thus his selfhood is assured.

8. THE WAY OF WATER

Great good is said to be like wat
er, sustaining life with no conscious striving, flowing naturally, providing nourishment, found even in places which desiring man rejects.

In this way it is like the Tao itself.

Like water, the sage abides in a humble place; in meditation, without desire; in thoughtfulness, he is profound, and in his dealings, kind. In speech, sincerity guides the man of Tao, and as a leader, he is just. In management, competence is his aim, and he ensures the pacing is correct.

Because he does not act for his own ends, nor cause unnecessary conflict, he is held to be correctin his actions towards his fellow man.

9. WITHOUT EXTREMES

The cup is easier to holdwhen not filled to overflowing.

The blade is more effective if not tempered beyond its mettle.

Gold and jade are easier to protect if possessed in moderation.

He who seeks titles, invites his own downfall.

The sage works quietly, seeking neither praise nor fame; completing what he does with natural ease, and then retiring. This is the way and nature of Tao.

10. CLEANING THE DARK MIRROR

Maintaining unity is virtuous, for the inner world of thought is onewith the external world of action and of things.

The sage avoids their separation, by breathing as the sleeping babe, and thus maintaining harmony.

He cleans the dark mirror of his mind, so that it reflects without intent. He conducts himself without contriving, loving the people, and not interfering.

He cultivates without possessing, thus providing nourishment, he remains receptive to changing needs, and creates without desire.

By leading from behind, attending to that which must be done, he is said to have attained the mystic state.